Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong đời sống xã hội, quan hệ hôn nhân không chỉ bao gồm sự gắn kết về mặt tình cảm và nhân thân mà còn đòi hỏi việc xác lập, duy trì các quan hệ tài sản nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của gia đình. Chế độ tài sản của vợ và chồng là một chế định trung tâm của pháp luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ), đóng vai trò thiết lập căn cứ pháp lý để các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản, bảo vệ lợi ích của các thành viên trong gia đình cũng như quyền lợi của người thứ ba khi xác lập giao dịch.

Tại Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã bổ sung nhiều điểm mới tiến bộ so với các đạo luật trước đây (Luật năm 1959, 1986, 2000), nổi bật là việc ghi nhận song song chế độ tài sản ước định (theo thỏa thuận) và chế độ tài sản pháp định (theo luật định). Tuy nhiên, quá trình áp dụng các quy định này vào thực tiễn xét xử vẫn phát sinh một số vướng mắc, bất cập. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, rà soát quy chuẩn thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản, khái niệm và đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng trong pháp luật Việt Nam.
  2. Phân tích các quy định cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định trong Luật HN&GĐ năm 2014.
  3. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng và xét xử nhằm chỉ ra các hạn chế, vướng mắc phát sinh.
  4. Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ và chồng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Trình bày những vấn đề lý luận và quá trình phát triển lịch sử của chế độ tài sản vợ chồng.
  2. Phân tích nội dung chi tiết của chế độ tài sản vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng và xây dựng hệ thống kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng và thực tiễn áp dụng theo Luật HN&GĐ năm 2014. Tác giả xác định rõ không nghiên cứu về quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khái quát quá trình phát triển chế định tài sản vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử pháp luật Việt Nam; tập trung chuyên sâu vào chế độ tài sản theo luật định theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn tại Việt Nam (kết hợp quá trình thực tập tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng, Hải Phòng trong giai đoạn từ tháng 12/2022 đến tháng 03/2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước về xây dựng, củng cố thiết chế gia đình trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm pháp lý, cấu thành quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và các căn cứ xác lập khối tài sản.
  • Phương pháp so sánh luật học và lịch sử: So sánh quy chế pháp lý qua các giai đoạn lịch sử (pháp luật phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật miền Nam giai đoạn 1954–1975 và pháp luật Việt Nam từ 1945 đến nay).
  • Phương pháp thu thập tài liệu, thống kê và đánh giá thực tiễn: Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn xét xử và thực tiễn thi hành án để chỉ ra những lỗ hổng pháp lý.

Căn cứ pháp lý và nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946 (Điều 9), Hiến pháp năm 1980 (Điều 64), Hiến pháp năm 2013 (Điều 32).
  • Văn bản luật: Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000 và 2014; Bộ luật Dân sự các năm 2005, 2015 (các Điều 109, 205, 228–233); Luật Đất đai năm 2013 (Điều 95); Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  • Văn bản dưới luật: Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (Điều 7, 12); Thông tư số 75/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải.
  • Cổ luật và luật điển hóa lịch sử: Quốc triều hình luật (thời Lê, niên hiệu Hồng Đức 1470–1497); Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn, 1815); Dân luật Bắc Kỳ (1931); Dân luật Trung Kỳ (1936); Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883); Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ luật Dân sự năm 1972 ở miền Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ và chồng

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại chế độ tài sản của vợ chồng và phân tích tiến trình lập pháp trong lịch sử Việt Nam.

1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thỏa thuận về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, bao gồm căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ đối với các khối tài sản, cũng như trường hợp và nguyên tắc chia tài sản. Chế định này mang 5 đặc điểm:

  • Chủ thể bắt buộc phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp và đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
  • Chế độ tài sản tồn tại gắn liền và phụ thuộc vào thời kỳ hôn nhân, chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.
  • Mục đích cơ bản là bảo đảm quyền lợi chung của gia đình và con cái.
  • Là cơ sở xác lập giao dịch với người thứ ba, bảo đảm sự ổn định của trật tự dân sự.
  • Là căn cứ pháp lý để cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp tài sản.

2. Phân loại các mô hình chế độ tài sản: Văn bản phân định rõ hai hình thức cơ bản trên thế giới và trong khoa học pháp lý:

  • Chế độ tài sản ước định (theo thỏa thuận): Xác lập thông qua hôn ước trước khi kết hôn, tôn trọng quyền tự định đoạt nhưng không được trái đạo đức và trật tự công cộng.
  • Chế độ tài sản pháp định (theo luật định): Bao gồm mô hình theo tiêu chuẩn cộng đồng (cộng đồng toàn sản; cộng đồng động sản và tạo sản; cộng đồng tạo sản) và mô hình theo tiêu chuẩn phân sản (tách bạch hoàn toàn tài sản riêng).
Mô hình chế độ tài sản Khối tài sản chung Khối tài sản riêng Áp dụng điển hình trong lịch sử VN
Cộng đồng toàn sản Toàn bộ tài sản có trước và tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, tài sản thừa kế/tặng cho riêng hoặc chung. Không thừa nhận tài sản riêng. Luật HN&GĐ năm 1959; Dân luật Bắc Kỳ 1931 / Trung Kỳ 1936 (khi không lập hôn ước).
Cộng đồng động sản & tạo sản Mọi động sản có trước/trong hôn nhân; hoa lợi, lợi tức; bất động sản mua bằng tài sản chung. Bất động sản có trước hôn nhân hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng. Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự năm 1972 (miền Nam).
Cộng đồng tạo sản Tài sản do vợ/chồng tạo ra từ lao động, sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân; hoa lợi, lợi tức. Tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Luật HN&GĐ năm 1986, 2000, 2014 (chế độ pháp định).
Phân sản Không tồn tại khối tài sản chung; mỗi bên tự quản lý tài sản của mình và đóng góp vào nhu cầu chung. Toàn bộ tài sản của mỗi bên trước và sau khi kết hôn. Một số quốc gia (Anh, Italia); Việt Nam không áp dụng làm chế độ pháp định.

3. Khái quát lịch sử chế độ tài sản vợ chồng tại Việt Nam:

  • Thời kỳ phong kiến: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ thiết lập chế độ cộng đồng toàn sản mang tính pháp định dưới quyền quản lý của người chồng (gia trưởng), phân chia điền sản thành 3 nhóm: phu tông điền sản, thê điền sản và tân tạo điền sản. Dù vậy, luật thời Lê đã công nhận người vợ là "nội tướng", có quyền quyết định các giao dịch điền sản quan trọng thông qua việc ký kết chung.
  • Thời kỳ Pháp thuộc: Miền Bắc (DLBK 1931) và miền Trung (DLTK 1936) thừa nhận quyền lập tư ước, nếu không có tư ước thì theo lệ "hợp nhất tài sản"; tài sản chung gánh vác các khoản nợ của gia đình và nợ riêng của chồng/vợ khi hành nghề. Miền Nam (DLGYNK 1883) chịu ảnh hưởng của BLDS Pháp 1804.
  • Giai đoạn 1954–1975 tại miền Nam: Luật Gia đình năm 1959 ghi nhận hôn ước lập bằng văn bản công chứng ghi vào giấy giá thú; Sắc luật 15/64 và BLDS 1972 quy định chế độ cộng đồng động sản và tạo sản.
  • Giai đoạn từ 1945 đến nay: Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL năm 1950 cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng nam nữ (Điều 9 Hiến pháp 1946). Luật HN&GĐ năm 1959 áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản (Điều 15). Luật HN&GĐ năm 1986 và Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP chuyển sang chế độ cộng đồng tạo sản, công nhận quyền có tài sản riêng. Luật HN&GĐ năm 2000 bổ sung nguyên tắc suy đoán tài sản chung (Khoản 3 Điều 27). Luật HN&GĐ năm 2014 chính thức ghi nhận cả hai chế độ: pháp định và thỏa thuận.

Chương 2: Nội dung chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014.

1. Những quy định chung (Điều 28–32):

  • Quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận lập thành văn bản có công chứng/chứng thực trước khi kết hôn (Điều 28, Điều 47).
  • Nguyên tắc bình đẳng về quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung, đặc biệt quy định "không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập" (Khoản 1 Điều 29) nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của người làm công việc nội trợ.
  • Nghĩa vụ bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 30), giao dịch liên quan đến nhà ở là nơi ở duy nhất phải có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng (Điều 31).
  • Nguyên tắc suy đoán bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 32): người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hoặc đang chiếm hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu được suy đoán có quyền xác lập giao dịch.

2. Căn cứ xác lập và cơ cấu khối tài sản chung (Điều 33): Khối tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất, được xác lập dựa trên các căn cứ:

  • Tài sản tạo ra từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân.
  • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân (Điều 109 BLDS 2015).
  • Tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung.
  • Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc nhận chuyển nhượng bằng tài sản riêng).
  • Tài sản xác lập quyền sở hữu theo BLDS 2015: tài sản vô chủ (Điều 228), tài sản chôn giấu/vùi lấp/chìm đắm (Điều 229), tài sản đánh rơi/bỏ quên (Điều 230), gia súc/gia cầm/thủy sản thất lạc (Điều 231–233).
  • Tài sản riêng được thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung.
  • Nguyên tắc suy đoán tài sản chung: Mọi tài sản đang có tranh chấp mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì suy đoán là tài sản chung.

3. Quyền, nghĩa vụ và định đoạt tài sản chung (Điều 34, 35, 37):

  • Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 34; Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).
  • Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng đối với 3 loại tài sản: bất động sản; động sản phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình (Điều 35).
  • Nghĩa vụ chung về tài sản (Điều 37) bao gồm nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng xác lập, giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra hoặc nghĩa vụ phát sinh từ việc quản lý tài sản chung.

4. Chia tài sản chung của vợ chồng (Điều 38, 42, 59–64):

  • Luật quy định 3 trường hợp chia tài sản chung: (1) Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; (2) Chia tài sản chung khi ly hôn; (3) Chia tài sản chung khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết.
  • Chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38): Được lập thành văn bản thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng bị cấm nếu nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, bồi thường, nghĩa vụ trả nợ, nộp thuế hoặc xâm phạm lợi ích của gia đình và con chưa thành niên/con mất năng lực hành vi dân sự (Điều 42).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng - Một số kiến nghị đề xuất

Chương 3 tổng kết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất định hướng hoàn thiện:

  • Về thực tiễn xét xử: Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh tài sản riêng khi tài sản chung - riêng đan xen qua thời gian dài; việc xác định công sức đóng góp của bên làm nội trợ; tranh chấp liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một người; vướng mắc khi bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình trong các hợp đồng chuyển nhượng bất động sản hoặc thế chấp ngân hàng.
  • Kiến nghị hoàn thiện: Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định "nguồn sống duy nhất", "nhu cầu thiết yếu của gia đình"; đồng bộ hóa quy định đăng ký tài sản giữa pháp luật đất đai, dân sự và hôn nhân gia đình; cụ thể hóa cơ chế xử lý giao dịch vô hiệu do một bên tự ý định đoạt tài sản chung.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý: Phân tích một cách logic quá trình chuyển biến của chế độ tài sản vợ chồng qua các đạo luật trong lịch sử Việt Nam từ thời Lê (Quốc triều hình luật), thời Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ), thời Pháp thuộc, giai đoạn chia cắt 1954–1975 cho đến các bộ luật hiện đại (1959, 1986, 2000, 2014).
  • Làm rõ các điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014: Khẳng định bước tiến lập pháp khi công nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 47–50); quy định rõ hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là tài sản chung (Khoản 1 Điều 33); thiết lập nguyên tắc bảo vệ quyền lao động gia đình ngang với lao động có thu nhập (Khoản 1 Điều 29); bổ sung cơ chế suy đoán bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 32).
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Khóa luận chỉ rõ các vướng mắc về chứng minh nguồn gốc tài sản, thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả hai vợ chồng theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP và đề xuất giải pháp đồng bộ cơ chế áp dụng pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu đã xác định ở phần mở đầu, đề tài không đi sâu vào chế định quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng. Ngoài ra, khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu chế độ tài sản theo luật định (pháp định), chưa đi sâu phân tích toàn diện chế độ tài sản ước định (theo thỏa thuận) và các thủ tục tuyên bố vô hiệu thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu các án lệ và vụ việc thực tế liên quan đến tranh chấp tài sản có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu chuyên sâu về hiệu lực và tranh chấp hợp đồng hôn ước (thỏa thuận chế độ tài sản tiền hôn nhân) theo Điều 47–50 Luật HN&GĐ 2014.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Dân sự và Hôn nhân gia đình; cán bộ tư pháp, luật sư, thẩm phán, công chứng viên và các cặp vợ chồng cần tìm hiểu quy chế tài sản.
  • Nội dung giá trị:
    • Phần phân tích lịch sử lập pháp (Chương 1) cung cấp tư liệu tham khảo giá trị về cổ luật Việt Nam (QTHL, HVLL) và các đạo luật thời kỳ Pháp thuộc, chế độ Sài Gòn cũ.
    • Phần luận giải các căn cứ pháp lý tại Chương 2 là tài liệu tra cứu hữu ích về căn cứ xác lập tài sản chung/riêng, điều kiện định đoạt tài sản chung bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận (Điều 35) và các trường hợp bị cấm khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (Điều 42).

Câu hỏi thường gặp

1. Trong lịch sử cổ luật Việt Nam, khối tài sản điền sản của vợ chồng thời phong kiến được phân loại như thế nào?
Theo Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, điền sản là tài sản quan trọng nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng và được chia thành 3 loại: Phu tông điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng), Thê điền sản (tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình vợ) và Tân tạo điền sản (tài sản do vợ chồng cùng tạo lập ra trong thời kỳ hôn nhân).

2. Luật HN&GĐ năm 2014 quy định những trường hợp nào việc định đoạt tài sản chung bắt buộc phải có thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng?
Căn cứ Khoản 2 Điều 35 Luật HN&GĐ năm 2014, việc định đoạt tài sản chung bắt buộc phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong 3 trường hợp: (a) Bất động sản; (b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; (c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

3. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị pháp luật cấm trong những trường hợp nào?
Theo Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014, việc chia tài sản chung bị vô hiệu/không được chấp thuận nếu: (1) Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền lợi của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự/không có khả năng lao động; (2) Nhằm trốn tránh các nghĩa vụ tài sản như: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại; thanh toán khi bị tuyên bố phá sản; trả nợ; nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.

4. Nguyên tắc suy đoán tài sản chung theo Luật HN&GĐ năm 2014 được quy định và áp dụng như thế nào?
Căn cứ Khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 (kế thừa từ Khoản 3 Điều 27 Luật năm 2000), trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Nguyên tắc này đặt nghĩa vụ chứng minh lên người tuyên bố tài sản là của riêng mình.

5. Điểm khác biệt căn bản về khối tài sản giữa Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 là gì?
Luật HN&GĐ năm 1959 áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản (Điều 15), quy định toàn bộ tài sản có trước và sau khi cưới đều thuộc sở hữu chung hợp nhất, không thừa nhận tài sản riêng. Trong khi đó, Luật HN&GĐ năm 1986 chuyển sang chế độ cộng đồng tạo sản, chính thức công nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng (tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng hoặc thừa kế riêng).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Sỹ Hoài Nam đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định tài sản vợ chồng, đặc biệt là chế độ tài sản pháp định theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Công trình làm rõ sự chuyển biến tiến bộ của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời phân tích sâu sắc các căn cứ xác lập, quản lý, định đoạt và phân chia khối tài sản chung, tài sản riêng. Các kiến nghị được đưa ra bám sát các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và xét xử, mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho sinh viên, cán bộ nghiên cứu và người hành nghề luật.