phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày thành 2 chƣơng với 5 mục. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở CƠ SỞ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống.
Phổ biến giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật cho mọi công dân, nhằm phát huy vai trò và hiệu lực pháp luật trong đời sống xã hội. Do vậy công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho ngƣời dân có vị trí, vai trò rất quan trọng. Đặc biệt khi Nhà nƣớc ta đang xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong khoa học pháp lý, phổ biến, giáo dục pháp luật là những khái niệm bao hàm nhau.
Trong đó, khái niệm giáo dục pháp luật là khái niệm rộng nhất, vì trong hoạt động giáo dục pháp luật, có cả hoạt động phổ biến pháp luật. Phổ biến pháp luật tức là sự truyền tải thông tin pháp luật có định hƣớng, có đối tƣợng xác định. Tiêu chuẩn để đánh giá sự xác định của các đối tƣợng thể hiện ở chỗ đối tƣợng đó cần phải nắm vững về nội dung thông tin vì nó là thiết thực, là đòi hỏi bức xúc, sự cần thiết trƣớc mắt. Nếu nhƣ tuyên truyền pháp luật là sự truyền tải thông tin về pháp luật hiện hành một cách rộng rãi không hạn chế về phạm vi, giới hạn các chủ thể của quan hệ xã hội, tức là tới mọi công dân.
Đó là sự thông tin toàn diện, chung nhất về hệ thống pháp luật hiện hành. Thông tin về sự công bố, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trƣờng, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông… chính là 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự tuyên truyền pháp luật. Sự thông tin này không nhằm vào những đối tƣợng nhất định mà là toàn xã hội. Do vậy việc phổ biến pháp luật bao giờ cũng phải đƣợc thực hiện đối với những đối tƣợng nhất định, với những nội dung có chủ định trƣớc, nhằm đạt đƣợc những mục đích nhất định.
Xét một cách bao quát nhất, có thể thấy nội dung của phổ biến pháp luật không chỉ dừng lại ở việc thông tin về những văn bản pháp luật, mà còn bao hàm cả việc truyền bá các chính sách pháp luật, các chủ trƣơng của nhà nƣớc về một vấn đề gì đó. Phổ biến pháp luật, ở mức độ nhất định là đồng nghĩa với tuyên truyền pháp luật, đều là sự truyền tải thông tin pháp luật, đáp ứng nhu cầu hiểu biết về pháp luật của các tầng lớp dân cƣ, của các nhóm xã hội. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những sự khác biệt nhất định. Chẳng hạn, luật thuế đƣợc ban hành thì sự truyền tải thông tin về luật thuế đó không phải đối với mọi đối tƣợng đều ở mức độ nhƣ nhau.
Đối với đa số nông dân có lẽ thuế môn bài không cần phải phổ biến vì hầu nhƣ không có liên quan gì đối với họ. Những ngƣời hoạt động kinh doanh thì ngƣợc lại, họ cần phải đƣợc phổ biến cụ thể, chi tiết. Cũng có những văn bản, đối với ngƣời nông dân không chỉ dừng lại ở mức độ tuyên truyền mà cần phải đƣợc phổ biến, họ cần phải đƣợc "quán triệt" để thực hiện. Phổ biến pháp luật luôn nhằm những mục đích nhất định là đƣa pháp luật vào cuộc sống, xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật.
Phổ biến pháp luật ở cơ sở xã, phƣờng cũng có nghĩa là việc giải thích rộng rãi các thông tin pháp luật cho các tầng lớp dân cƣ trên địa bàn xã, phƣờng để thuyết phục họ ủng hộ và thực hiện theo pháp luật. Phổ biến pháp luật ở đây là làm cho đông đảo quần chúng nhân dân biết các văn bản pháp luật mà Nhà nƣớc ban hành bằng cách truyền đạt trực tiếp (nhƣ mở lớp tập huấn pháp luật) hay thông qua các hình thức khác (nhƣ thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng, thông qua loa truyền thanh xã, phƣờng. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo dục pháp luật là quá trình hoàn thiện nhân tố xã hội- pháp lý của con ngƣời, nâng cao khả năng sáng tạo của con ngƣời trƣớc đời sống thực tiễn. Đây là một quá trình không những phụ thuộc vào năng lực các loại chủ thể, nội dung, hình thức giáo dục, mà còn chịu chi phối đa chiều của nhiều yếu tố nhƣ: mặt bằng kinh tế, xã hội, dân trí và dân trí pháp lý, phong tục, tập quán.
Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, mục đích và thƣờng xuyên tới nhận thức của con ngƣời nhằm trang bị cho mỗi ngƣời trình độ pháp lí nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật. Mục đích của giáo dục pháp luật đƣợc xem xét trên nhiều góc độ tùy thuộc vào đối tƣợng giáo dục, cấp độ giáo dục cũng nhƣ hình thức giáo dục. Nhìn chung, mục đích giáo dục có thể mang tính lâu dài hoặc trƣớc mắt nhƣng đều hƣớng tới ba vấn đề cơ bản: - Một là, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành một tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể (với tính cách là đối tƣợng nhận thức hay là đối tƣợng của giáo dục). Đây là mục đích hàng đầu của giáo dục pháp luật bởi lẽ sự hiểu biết pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phát triển của tƣ duy pháp lý, định hƣớng các hành vi của chủ thể trên thực tế.
Tri thức pháp luật tạo nên cơ sở khẳng định lòng tin vào các giá trị của pháp luật, các chuẩn mực pháp lý cần thiết giúp cho các chủ thể chủ động xác lập hành vi và chịu trách nhiệm về hành vi. Tri thức pháp luật không thể là sự hiểu biết đơn giản, phiến diện về một vài khía cạnh pháp luật nào đó mà nó mang tính hệ thống, logic. Do đó, giáo dục pháp luật là hoạt động có vai trò quan trọng đối với quá trình mở rộng khối lƣợng tri thức pháp lý, nâng cao khả năng hiểu biết pháp luật một cách toàn diện, thống nhất đối với chủ thể. - Hai là, giáo dục pháp luật nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật.
Để hình thành một lòng tin và đem lại một thái 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ đúng đắn, tích cực đối với pháp luật ở mỗi ngƣời cần phải giải quyết nhiều vấn đề có liên quan, trong đó giáo dục pháp luật là một hoạt động cơ bản. Chúng ta biết rằng, lòng tin vào pháp luật là lòng tin vào công lý, lẽ công bằng đƣợc tạo lập bởi chính pháp luật. Lòng tin chỉ có giá trị đích thực khi nó đem lại một thái độ chủ động trong xử sự phù hợp với pháp luật và đƣợc hình thành trên một tri thức pháp luật cần thiết (nếu không sẽ là niềm tin mù quáng phản tác dụng). Giáo dục pháp luật không đơn thuần là chỉ để hiểu biết về các qui định của pháp luật mà cao hơn nữa là để pháp luật đƣợc “sống” trong tƣ duy, hành vi của mọi ngƣời, để khơi dậy một tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn ở mỗi ngƣời đối với pháp luật, giáo dục tình cảm công bằng, khoan dung, ý thức trách nhiệm, thái độ không khoan nhƣợng trƣớc các hành vi vi phạm pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật, pháp chế.
- Ba là, giáo dục pháp luật nhằm hình thành thói quen xử sự theo pháp luật với động cơ tích cực. Tri thức pháp luật không thể là những nội dung lý luận thuần tuý mà nó phải đƣợc hiện thực hóa thông qua các hoạt động pháp lý thực tiễn. Mục đích của giáo dục pháp luật không chỉ cung cấp những kiến thức lý luận hoặc các qui định pháp luật cụ thể mà quan trọng hơn là tạo lập đƣợc thói quen xử sự theo pháp luật ở mỗi loại chủ thể trong xã hội. Thói quen này đƣợc hình thành không phải là thụ động, vô thức mà dựa trên nền tảng của động cơ về hành vi hợp pháp, tích cực.
Trên thực tế, để có thói quen xử sự hợp pháp không những đòi hỏi con ngƣời ta thu nạp lƣợng kiến thức pháp lý cần thiết mà còn trải qua quá trình chuyển hóa chủ quan về mặt tâm lý. - Bốn lภgiáo dục pháp luật, đặc biệt là giáo dục pháp luật ở cơ sở để thông qua đó, giáo dục đạo đức. Dƣới tác động của đời sống xã hội ở mỗi ngƣời dân cũng nhƣ cả cộng đồng luôn hình thành những quan điểm, quan niệm về chân, thiện, mỹ, về hạnh phúc, danh dự, vinh, nhục, về trách nhiệm, bổn phận, tính trung thực, lòng vị tha, lẽ sống…của mỗi con ngƣời và cộng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng xã hội. Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm đó, các quy tắc ứng xử tƣơng ứng đƣợc tập hợp lại gọi là đạo đức.
Thông qua việc phổ biến pháp luật để giáo dục nhân cách, lối sống của mỗi ngƣời theo những chuẩn mực chung của cộng đồng, của xã hội. Nhờ có đạo đức, các hành vi trái quy tắc sinh hoạt chung của cộng đồng đƣợc hạn chế, trật tự xã hội đƣợc ổn định, quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đƣợc đảm bảo bằng tình yêu thƣơng đồng loại, bằng sự đoàn kết và gắn bó lẫn nhau. Đạo đức và pháp luật đều là những khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi con ngƣời, vì một xã hội trật tự, ổn định và phát triển. - Năm là, thông qua giáo dục pháp luật là giáo dục quyền con người, quyền đƣợc hiểu biết, tôn trọng và tự biết bảo vệ các quyền của cá nhân, của công dân.
Theo Chƣơng II, dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 về quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thì các quyền này đƣợc xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Công dân có các quyền sở hữu, quyền biểu quyết, quyền khiếu nại, tố cáo…và cũng có những nghĩa vụ tƣơng ứng nhƣ nộp thuế, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.