Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 1. Lý luận chung về phổ biến, giáo dục pháp luật Khi nói đến lý luận chung là chúng ta đề cập đến những điểm cơ bản, chung nhất mang tính khái quát về nguồn gốc của vấn đề đang được nghiên cứu. Cũng như vậy, trong luận văn này, nghiên cứu lý luận chung về PBGDPL chúng ta sẽ làm rõ khái niệm, nguyên tắc của PBGDPL. Khái niệm PBGDPL Khi đi vào nghiên cứu cụ thể một lĩnh vực, ngành khoa học nào đó thì vấn đề đầu tiên đặt ra đối với mỗi chúng ta là phải làm sáng tỏ bản chất (khái niệm) của vấn đề cần được nghiên cứu.
Xung quanh vấn đề PBGDPL có rất nhiều những phân tích, lý giải khác nhau nhằm hình thành nên khái niệm PBGDPL, bên cạnh những khái niệm rõ nghĩa, còn có những trường hợp đánh đồng khái niệm giữa phổ biến và giáo dục pháp luật. Thực chất thì đây là những khái niệm hoàn toàn khác nhau. PBGDPL là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật. Phổ biến pháp luật được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của nó; Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước.
Trong hầu hết các văn bản của ta, phổ biến pháp luật được sử dụng theo nghĩa rộng. Một hoạt động phổ biến pháp luật được thực hiện thường nhằm vào những đối tượng cụ thể mà hành động của họ có liên quan trực tiếp đến sự điều chỉnh của một loại văn bản pháp luật cụ thể, giúp đối tượng nắm vững để điều chỉnh hành vi của mình. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Khác với phổ biến pháp luật, giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình truyền tải những thông tin pháp luật nhằm nâng cao tri thức, phát triển nhận thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị.), hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, đồng thời nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng từ đó có thể điều chỉnh được cách hành vi, xử sự của bản thân trong cuộc sống cũng như có thể tự mình sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân. Tóm lại, có thể quan niệm giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm tác động lên đối tượng được giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin và hành vi xử sự hợp pháp cho đối tượng được giáo dục qua đó hình thành ở đối tượng được giáo dục ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật và các yêu cầu của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Như vậy có thể hiểu từ ghép “PBGDPL” với hai nghĩa: Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực PBGDPL trong đó bao gồm tất cả các hoạt động, công đoạn sau: - Định hướng hoạt động PBGDPL; - Lập chương trình, kế hoạch PBGDPL; - Triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL bằng các hình thức PBGDPL; - Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận, kỹ năng phổ biến giáo dục pháp luật. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bùi Thị Diễm Trang - Lớp Cao học Luật chuyên ngành Lý luận khoá X ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, hoạt động PBGDPL được đề cập theo nghĩa hẹp. Các nguyên tắc của hoạt động PBGDPL 1.
Đảm bảo quyền được thông tin, quyền được tham gia quản lý nhà nước của công dân a) Đảm bảo quyền được thông tin của công dân Nhà nước ta từ khi thành lập đến nay luôn luôn lấy quyền con người làm mục tiêu đấu tranh, phấn đấu, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân được khẳng định là nguyên tắc hiến định trong mọi hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Nhà nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì hơn bao giờ hết quyền con người, quyền công dân được đặc biệt quan tâm. Trong các quyền đó, quyền được thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng. Có thể nói quyền được thông tin là cầu nối để công dân thực hiện các quyền khác của mình.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, BTA…chúng ta đã cam kết thực hiện một cơ chế hoàn toàn minh bạch bằng cách cho phép góp ý kiến vào các dự thảo luật và quy định, đảm bảo sẽ công khai trước tất cả các luật và các quy định đó. Theo cam kết này, không chỉ công dân Việt Nam và các công dân, tổ chức nước ngoài đến sinh sống và đầu tư tại Việt Nam đều phải được đảm bảo quyền được thông tin về các chính sách, pháp luật của nhà nước Việt Nam trước khi các chính sách, văn bản đó có hiệu lực. Quyền được thông tin giúp cho mọi công dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách trên, hoàn thành các cam kết quốc tế, vững vàng cùng đất nước bước vào tiến trình hội nhập quốc tế, tham gia vào WTO với tư cách là thành viên. Chính quyền được thông tin có vai trò quan trọng như vậy nên sau sự ra đời của ba bản Hiến pháp, đến Hiến Pháp 1992, quyền được thông tin của công dân đã được ghi nhận tại Điều 69: “ Công dân có các quyền tự do ngôn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền được hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
[1] Quyền được thông tin bao gồm cả quyền truyền thông tin và nhận thông tin. Quy định mới về quyền được thông tin này kịp thời đáp ứng chủ trương và yêu cầu của tình hình đổi mới và mở cửa của nước ta. Hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật với những đặc trưng, tính chất của mình góp phần đảm bảo “quyền truyền thông tin và nhận thông tin” của công dân, cụ thể trong lĩnh vực pháp luật, qua đó công dân có những điều kiện cần thiết để tham gia chủ động và tích cực vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội. Thông tin pháp luật là thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên ký kết hoặc tham gia, các tin tức, tri thức, dữ kiện được tạo lập và thu nhận trong quá trình lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong nghiên cứu và giảng dạy pháp luật.
Thông tin pháp luật và phổ biến giáo dục pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Thông tin là nguồn nội dung cho hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật. PBGDPL là hoạt động truyền tải các thông tin pháp luật tới mọi đối tượng trong xã hội. PBGDPL không giới hạn về phạm vi thông tin và đối tượng tiếp nhận thông tin.
Thông tin trong PBGDPL là những thông tin toàn diện và chung nhất về những vấn đề liên quan đến pháp luật, trước hết là hệ thống pháp luật hiện hành. Với quyền được thông tin pháp luật, mọi công dân sẽ nắm được hệ thống pháp luật hiện hành từ khâu dự thảo, xây dựng đến khi công bố và đưa vào áp dụng, thực hiện pháp luật trong cuộc sống. Qua đó, đảm bảo thực hiện một trong các nguyên tắc quan trọng của pháp luật đó là tính công khai, minh bạch. Nội dung của PBGDPL có phạm vi rộng song lại có đặc thù riêng, bao gồm: các thông tin về pháp luật (cả kiến thức pháp luật cơ bản và văn bản pháp luật thực định); các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bùi Thị Diễm Trang - Lớp Cao học Luật chuyên ngành Lý luận khoá X ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- phạm pháp luật và tội phạm; về vị trí, tác động của từng văn bản pháp luật đối với đời sống xã hội, đối với từng đối tượng và ý kiến của nhân dân, của các chuyên gia trong từng lĩnh vực đánh giá hiệu lực pháp lý, hiệu quả kinh tế xã hội của các văn bản pháp luật và các biện pháp thi hành pháp luật; các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể (các quá trình, thủ tục đơn giản để người dân có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình).
Những vấn đề nêu trên đã lý giải “quyền được nhận thông tin” của công dân. Bên cạnh đó “quyền truyền thông tin” của công dân cũng cần được đảm bảo. Nhận biết, nắm được thông tin pháp luật đến với mình, công dân có quyền được phản hồi lại ý kiến trước những thông tin pháp luật đó. Với khâu dự thảo, xây dựng pháp luật công dân tham gia ở góc độ góp ý vào các dự thảo văn bản pháp luật; với khâu ban hành, thực hiện pháp luật công dân tham gia ở góc độ phản ánh tính khả thi của pháp luật, những vướng mắc khi vận dụng pháp luật để giải quyết vấn đề trong đời sống xã hội cũng như các hiện tượng vi phạm pháp luật xảy ra.
Nhà nước phải có trách nhiệm tiếp nhận những thông tin được truyền đến từ công dân, xem xét và có biện pháp xử lý kịp thời, thích hợp. Việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các loại thông tin trên cho công dân giúp họ có khả năng phân tích, đánh giá một cách khoa học và định hướng hành vi của mình khi gặp những sự kiện pháp lý trong trường hợp cụ thể. Ví dụ đối với doanh nghiệp: Thứ nhất, tiếp cận được thông tin cần thiết sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí khởi nghiệp khi có kế hoạch kinh doanh, hoạch định chính xác chiến lược kinh doanh, đưa ra các quyết định đầu tư và kinh doanh có cơ sở hơn. Tiếp cận được thông tin đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro pháp lý.