phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học các môn học cho học sinh trường Tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học các môn học cho học sinh trường Tiểu học Thắng Lợi, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học các môn học cho học sinh Trường Tiểu học Thắng Lợi, thành phố Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HUỐNG NGUY HIỂM THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC MÔN HỌC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhìn chung nhiều nước trên thế giới và khu vực đều nhìn nhận hoạt động giáo dục kĩ năng ứng phó cho học sinh trong nhà trường là vô cùng cần thiết, giúp học sinh phát huy kỹ năng sống của bản thân và kỹ năng bảo vệ những người xung quanh trong môi trường xã hội và môi trường giáo dục. + Indonesia: Giáo dục “kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm được quan niệm là những kỹ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập. Giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm sẽ: i) Nâng cao cơ hội việc làm cho người học; ii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa phương và tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt”.
+ Thái Lan: Quan niệm kỹ năng sống là “kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc”. - Theo tổ chức WHO thì tình huống nguy hiểm là nguyên nhân gây ra bạo lực học đường, xâm phạm đến thân thể và tâm lý người học, thậm chí dẫn đến tàn tật và tử vong. Mỗi ngày trên thế giới có 16.000 người chết do tình huống nguy hiểm (theo WHO). Kèm theo các tai nạn tử vong thì có vài ngàn người bị thương tật vĩnh viễn.
Có khoảng 40% trường hợp trẻ tử vong từ 1-14 tuổi ở các nước đang phát triển là do chấn thương. Hàng năm có 2300 trẻ em tử vong là chấn thương do TNGT, ngã, bỏng, chết đuối,… Tuy nhiên, tỉ lệ tử 7 vong do tình huống nguy hiểm giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển có khoảng cách rất lớn. - Tổ chức UNICEF đã có “Báo cáo thế giới về Phòng, chống tình huống nguy hiểm ở trẻ em”. Báo cáo hội tụ tất cả những kiến thức hiện nay đã được biết về tình huống nguy hiểm và cách phòng ngừa chúng.
Báo cáo gợi ý rằng chương trình Phòng, chống tai nạn, thương tích ở trẻ em cần được lồng ghép với sự sống còn của trẻ em và các chiến lược to lớn khác tập trung vào việc cải thiện cuộc sống của trẻ em (WHO, UNICEF, 2010, tr. Như vậy, với quan niệm và cách phân loại của một số nước trên thế giới và khu vực có những nét khác nhau, nhưng nhìn chung đều nhìn nhận đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc hình thành các kỹ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học cho các đối tượng trong môi trường giáo dục. Các nghiên cứu trong nước - Những nghiên cứu về công tác phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em và giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em. Liên quan gần gũi đến giáo dục phòng tránh bị xâm hại cho trẻ em là lĩnh vực giáo dục về giới tính.
Khảo sát cho thấy khá nhiều đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án về nhận thức, thái độ của giáo viên, phụ huynh về giáo dục giới tính cho học sinh và thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh (Huỳnh Văn Sơn, 1999 [11]; Võ Thị Tường Vy, 1999, Nguyễn Văn Phương, 2003; 2009; Nguyễn Xuân Huệ, 2012. và một số tác giả khác). Kết quả các nghiên cứu này cho thấy, học sinh tiểu học có ý thức tương đối đầy đủ về mục đích của giáo dục giới tính và cho rằng đây là hoạt động giáo dục cần thiết cho học sinh lứa tuổi này. Học sinh cũng quan tâm đến nhiều nội dung giáo dục giới tính như khái niệm về giới tính, các đặc điểm phân biệt nam nữ, biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì, tình dục an toàn, các mối quan hệ lành mạnh, các biện pháp phòng tránh thai, tình yêu, bình đẳng giới.
8 - Một lĩnh vực nghiên cứu khác có liên quan đến giáo dục phòng tránh xâm hại cho trẻ là giáo dục kỹ năng sống (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2013). Các nghiên cứu bài bản về lĩnh vực này cũng được thực hiện và công bố, kèm theo là các tài liệu hướng dẫn cho giáo viên để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010; UNESCO, 2006a; 2006b). - Trong những năm gần đây, khi mối quan tâm đến cả giáo dục kỹ năng sống và phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em đều tăng lên thì hai lĩnh vực này được tích hợp để giảng dạy cho học sinh. Trong số các kỹ năng sống được giảng dạy và rèn luyện cho học sinh thì kỹ năng bảo vệ an toàn cho bản thân bao gồm cả phòng tránh xâm hại tình dục cũng được nhiều trường đưa vào chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đặc biệt ở cấp tiểu học.
Tuy vậy, nghiên cứu về khuynh hướng dạy tích hợp và hiệu quả của mô hình này chưa được khảo cứu đầy đủ nên vẫn chưa tạo ra sự tác động đồng bộ. Các tài liệu về tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong các môn học của nhóm tác giả Lưu Thu Thủy và cộng sự cũng chưa đề cập một cách thỏa đáng cho nội dung này. Điều này có thể xuất phát từ mục tiêu khác nhau, nhưng rõ ràng là việc phối hợp liên ngành là một thách thức quá lớn nên chưa thể tạo ra sự phối hợp đồng bộ từ cộng đồng. Việc biên soạn tài liệu hướng dẫn phòng tránh xâm hại cho trẻ phần lớn các tài liệu giấy lẫn các video tại Việt Nam hiện tại đều bắt nguồn từ nước ngoài, được biên dịch lại bởi chuyên gia các tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận [19].
+ Ngô Thị Tuyên, trong cuốn (Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học) đã chỉ ra “Giáo dục kĩ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm, các loại kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm, vị trí vai trò của kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm trong giáo dục nhà trường, phương pháp giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm và trình bày phương pháp xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung 9 và hướng dẫn GV sử dụng kết hợp các phương pháp giáo dục kĩ năng sống trong đó giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm”. + Tác giả Lục Thị Nga đã phân tích “Tầm quan trọng của kĩ năng sống trong việc hình thành và phát triển nhân cách HS TH” và cho rằng: Nhân cách được hình thành qua hai con đường cơ bản trong nhà trường: con đường dạy học và con đường giáo dục ngoài giờ lên lớp. Bên cạnh việc làm rõ những vấn đề cơ bản về giáo dục KNS thì việc giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm cho HS Tiểu học cũng được quan tâm.
+ Tác giả Lê Thị Thu Ba (2011) viết về: “Biện pháp quản lí Phòng, chống và xử lý tình huống nguy hiểm cho trẻ ở trường mầm non” đăng trên Tạp chí giáo dục Số đặc biệt 11/2011 nêu lên một vài tai nạn thường xảy ra trong trường mầm non, nguyên nhân, cách phòng, chống, cách xử trí. - Nhìn chung những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống nói chung, giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm cho thấy tính đa dạng. Nó bao trùm từ cấp độ cá nhân đến cấp độ xã hội, với rất nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Các nghiên cứu chỉ ra mặt tích cực, mặt hạn chế trong quản lý giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm từ đó đề ra các biện pháp, giải pháp giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm.
Giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học các môn học cho học sinh Tiểu học là vấn đề được quan tâm. Những nghiên cứu nêu trên là cơ sở khoa học để tác giả hệ thống hóa cơ lý luận, nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học các môn học cho học sinh trường Tiểu học Thắng Lợi, thành phố Hà Nội hiện nay. Một số khái niệm liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm thông qua dạy học các môn học 1. Khái niệm quản lý - Theo thuyết quản lý hiện đại thì quản lý là quá trình làm việc và thông 10 qua những người khác để thực hiệc các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường biến động.
+ Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”. + Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến”. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, song ta có thể khái quát như sau: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí và khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.