Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỉ tại bậc học mầm non đóng vai trò nền tảng trong chiến lược đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em và Luật Người khuyết tật Việt Nam. Trong bối cảnh mạng lưới giáo dục mầm non thành phố Thái Nguyên duy trì ổn định với 66 trường (gồm 47 trường công lập, 18 trường tư thục, 1 trường dân lập) và 22.248 học sinh trong năm học 2020-2021, số lượng trẻ mắc hội chứng tự kỉ theo học tại các cơ sở giáo dục có xu hướng gia tăng liên tục. Cụ thể, số liệu thống kê ghi nhận từ 23 trẻ trong năm học 2018-2019 (trên tổng số 19.665 học sinh) đã tăng lên 35 trẻ trong năm học 2020-2021 (trên tổng số 21.760 học sinh).

Mặc dù chủ trương giáo dục hòa nhập đã được triển khai rộng rãi trên địa bàn 21 phường và 11 xã với diện tích tự nhiên 222,93 km2, chất lượng can thiệp thực tế vẫn đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng. Khảo sát thực trạng cho thấy mức độ tham gia hòa nhập của trẻ tự kỉ chỉ đạt điểm trung bình chung là 1,57 trên thang điểm 3,00, thuộc nhóm chưa thể tự lực tham gia các hoạt động giáo dục. Mục tiêu cốt lõi của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục mầm non (mã số 8.01) do tác giả Nghiêm Thị Thanh Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền là đánh giá toàn diện thực trạng, xác lập cơ sở khoa học và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỉ 3-4 tuổi tại 5 trường mầm non trọng điểm gồm Mầm non Trưng Vương, Mầm non 19/5 Thành phố, Mầm non Quang Trung, Mầm non Hương Sơn và Mầm non Gang Thép. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần chuẩn hóa quy trình can thiệp sớm và nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên mầm non.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn thiết lập nền tảng lý luận vững chắc dựa trên sự giao thoa giữa tâm lý học phát triển và giáo dục học đặc biệt. Nghiên cứu vận dụng định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới theo Bảng phân loại quốc tế ICD-10 và Sổ tay chẩn đoán thống kê DSM-IV của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, xác định tự kỉ là một dạng rối loạn phát triển thần kinh lan tỏa khởi phát trước 3 tuổi, đặc trưng bởi sự khiếm khuyết trong tương tác xã hội, hạn chế ngôn ngữ giao tiếp và xuất hiện các hành vi định hình lặp lại. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp quan điểm giáo dục hòa nhập theo Điều 15 Luật Giáo dục Việt Nam và nguyên tắc đảm bảo sự tham gia theo Bậc thang 10 cấp độ của Roger Hart.

Khung lý thuyết của đề tài kết hợp các mô hình can thiệp hành vi và tương tác xã hội đã được kiểm chứng khoa học trên thế giới. Trọng tâm gồm phương pháp Phân tích hành vi ứng dụng (ABA do Ivar Lovaas phát triển năm 1990) giúp định hình hành vi thông qua củng cố tích cực; Hệ thống giao tiếp qua trao đổi tranh (PECS của Andrew Bondy và Lori Frost) hỗ trợ phát triển ngôn ngữ không lời; Mô hình can thiệp phát triển quan hệ xã hội (RDI của Steven Gutstein) tập trung vào năng lực đồng cảm cảm xúc; cùng Liệu pháp âm nhạc trị liệu và kỹ thuật Cắt khúc thời gian (chia nhỏ phiên học thành các chu kỳ 15-20 phút) nhằm giảm thiểu căng thẳng và hiện tượng quá tải cảm giác ở trẻ tự kỉ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu điển hình để khảo sát 40 cán bộ quản lý và giáo viên mầm non trực tiếp phụ trách các lớp hòa nhập, cùng 35 trẻ tự kỉ (gồm 24 trẻ nam và 11 trẻ nữ) đang theo học tại 5 trường mầm non đại diện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Cỡ mẫu này phản ánh tính đại diện cao cho đối tượng trẻ tự kỉ lứa tuổi mẫu giáo 3-4 tuổi tại khu vực đô thị trung tâm vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Hệ thống công cụ thu thập dữ liệu bao gồm phiếu điều tra Anket sử dụng thang đo Likert 4 mức độ (từ 1,00 đến 4,00) để đo lường nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên, kết hợp phiếu quan sát hành vi trực tiếp và bảng đánh giá kỹ năng hòa nhập chuẩn hóa theo 5 tiêu chí: Tập trung chú ý, Bắt chước, Luân phiên, Hiểu ngôn ngữ và Sử dụng ngôn ngữ (mỗi tiêu chí chia 3 mức điểm từ 1,00 đến 3,00). Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp thống kê toán học, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm định so sánh kết quả thực nghiệm sư phạm can thiệp cá nhân trên trẻ tự kỉ (trẻ PA và trẻ NH) trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022. Việc lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp phỏng vấn sâu giúp làm sáng tỏ mối liên hệ nhân quả giữa biện pháp can thiệp sư phạm và sự chuyển biến hành vi của trẻ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng về số lượng trẻ tự kỉ tại các trường mầm non thành phố Thái Nguyên, tăng từ 23 trẻ năm học 2018-2019 lên 35 trẻ năm học 2020-2021 (tỷ lệ gia tăng đạt 52,17%). Về cơ cấu giới tính, trẻ nam chiếm đa số với 24 trẻ (tương đương 68,5%), trong khi trẻ nữ có 11 trẻ (chiếm 31,5%), hoàn toàn tương thích với quy luật dịch tễ học quốc tế về tỷ lệ mắc hội chứng tự kỉ giữa hai giới.

Thứ hai, mức độ tham gia hòa nhập của trẻ tự kỉ ở mức rất thấp, điểm trung bình chung toàn diện chỉ đạt 1,57 điểm, nằm trong khoảng từ 1,00 đến 1,66 (mức chưa thể tự hòa nhập và bắt buộc phải có sự trợ giúp liên tục). Trong 5 nhóm kỹ năng cốt lõi, kỹ năng tập trung chú ý và kỹ năng luân phiên bị đánh giá thấp nhất với điểm trung bình đồng mức 1,48 điểm. Tiếp theo là kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đạt 1,55 điểm và kỹ năng hiểu ngôn ngữ đạt 1,65 điểm.

Thứ ba, thực trạng năng lực đội ngũ cho thấy 28,0% cán bộ quản lý và giáo viên có thâm niên trên 15 năm và trên 54,4% đạt trình độ đại học trở lên, tuy nhiên vẫn còn 1,6% giáo viên chưa đạt chuẩn đào tạo. Đa số giáo viên mầm non chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt, dẫn đến sự lúng túng khi xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân và xử lý các hành vi bộc phát của trẻ tự kỉ.

Thứ tư, kết quả thực nghiệm sư phạm can thiệp cá nhân có cấu trúc trên 2 trẻ tự kỉ điển hình (bé PA và bé NH) đã chứng minh tính khả thi vượt trội của các biện pháp tác động, nâng điểm kỹ năng tương tác và chú ý từ mức dưới 1,40 điểm lên trên 2,35 điểm sau 3 tháng can thiệp liên tục.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các bảng thống kê và biểu đồ phân bổ, tiêu biểu là biểu đồ cơ cấu giới tính và biểu đồ so sánh 5 trụ cột kỹ năng hòa nhập. Biểu đồ chỉ rõ khoảng cách lớn giữa khả năng thụ cảm (kỹ năng hiểu ngôn ngữ đạt 1,65 điểm) và khả năng phản hồi tương tác chủ động (kỹ năng luân phiên chỉ đạt 1,48 điểm). Kết quả này phản ánh đúng khiếm khuyết cơ bản về cơ chế nơ-ron gương và xử lý tích hợp cảm giác ở trẻ tự kỉ, khiến trẻ gặp khó khăn khi tiếp nhận đa kênh kích thích trong môi trường lớp học đông học sinh.

So sánh với các công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Minh Huế (2018) về giáo dục hòa nhập tại các tỉnh miền núi phía Bắc và tác giả Ngô Xuân Điệp (2009) tại Thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng tại thành phố Thái Nguyên có nhiều nét tương đồng về sự hạn chế trong tương tác xã hội của trẻ. Tuy nhiên, điểm sáng từ thực nghiệm của luận văn khẳng định: khi giáo viên áp dụng linh hoạt phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) kết hợp lịch trình giao tiếp bằng tranh ảnh (PECS), mức độ tập trung chú ý của trẻ có thể cải thiện rõ rệt, giảm tới 40% các biểu hiện hung tính hay la hét. Việc thiết lập kế hoạch can thiệp cá nhân chính là chìa khóa thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết giáo dục đặc biệt và thực tiễn lớp học hòa nhập mầm non.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng và chuẩn hóa Kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP) tích hợp vào chế độ sinh hoạt hàng ngày. Chủ thể thực hiện là Ban giám hiệu và giáo viên phụ trách lớp hòa nhập. Mục tiêu đạt 100% trẻ tự kỉ đến trường được lập hồ sơ đánh giá năng lực đầu vào và kế hoạch can thiệp riêng biệt. Giáo viên bố trí thời gian can thiệp cá nhân định kỳ 15-20 phút/ngày với tần suất 2-3 buổi/tuần, lồng ghép vào các khung giờ đón trả trẻ hoặc hoạt động góc, hoàn thành lộ trình thiết lập kế hoạch trong vòng 4 tuần đầu năm học.

Thứ hai, áp dụng đồng bộ các phương pháp giáo dục chuyên biệt gồm ABA, PECS, RDI và kỹ thuật Cắt khúc thời gian. Chủ thể thực hiện là giáo viên đứng lớp. Mục tiêu giảm 40% các hành vi gây gián đoạn và tăng thời gian tập trung chú ý của trẻ trong hoạt động học có chủ đích lên trên 5 phút liên tục. Giáo viên chủ động sử dụng hệ thống thẻ tranh biểu tượng để chỉ dẫn hành vi, chuyển đổi linh hoạt giữa hoạt động tĩnh và động sau mỗi 15 phút nhằm hạn chế tình trạng quá tải giác quan.

Thứ ba, kiến tạo môi trường lớp học thân thiện và tổ chức nhóm bạn chơi tương trợ. Chủ thể thực hiện là tổ chuyên môn mầm non và giáo viên lớp hòa nhập. Xây dựng các nhóm chơi nhỏ từ 3-6 trẻ gồm trẻ tự kỉ và các bạn có tính cách cởi mở, thân thiện. Mục tiêu nâng tỷ lệ trẻ tự kỉ tham gia luân phiên chia sẻ đồ chơi lên trên 50% vào cuối học kỳ 1.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp ba bên giữa Nhà trường, Gia đình và Chuyên gia tâm lý. Chủ thể chỉ đạo là Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thái Nguyên phối hợp cùng Ban đại diện cha mẹ học sinh. Đơn vị quản lý tổ chức tối thiểu 02 đợt tập huấn chuyên sâu/năm về kỹ năng giáo dục hòa nhập; đồng thời yêu cầu 100% phụ huynh có con tự kỉ tham gia ký cam kết duy trì nhật ký can thiệp hành vi tại gia đình tối thiểu 30 phút mỗi ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cán bộ quản lý giáo dục và Ban giám hiệu tại 66 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thái Nguyên cũng như các địa phương có điều kiện tương đồng, sử dụng luận văn làm tài liệu định hướng xây dựng chính sách, bố trí nguồn lực cơ sở vật chất và phân công giáo viên phụ trách các lớp học hòa nhập đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thứ hai, Giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc và giảng dạy trẻ tự kỉ, tham khảo hệ thống 6 biện pháp sư phạm, quy trình thiết kế giáo án hòa nhập cá nhân và cách thức xử lý các tình huống khủng hoảng hành vi trong lớp học có quy mô từ 25-35 học sinh.

Thứ ba, Các bậc cha mẹ có con mắc hội chứng tự kỉ trong giai đoạn vàng từ 2 đến 6 tuổi, ứng dụng các kỹ thuật giao tiếp tăng cường bằng hình ảnh PECS, phương pháp tạo động lực chơi và cách thức đồng hành cùng giáo viên nhằm thiết lập môi trường trị liệu nhất quán tại gia đình.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục Đặc biệt và Tâm lý học đường, sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 5 tiêu chí kỹ năng hòa nhập và quy trình thực nghiệm sư phạm làm tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao cho các công trình nghiên cứu mở rộng tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Giáo dục hòa nhập tại trường mầm non mang lại lợi thế vượt trội nào cho trẻ tự kỉ so với môi trường chuyên biệt? Giáo dục hòa nhập cung cấp môi trường xã hội tự nhiên với đa dạng tương tác đồng đẳng, giúp trẻ tự kỉ 3-4 tuổi phát triển khả năng bắt chước hành vi và ngôn ngữ giao tiếp. Kết quả nghiên cứu chứng minh khi học cùng các bạn bình thường, điểm kỹ năng hiểu ngôn ngữ của trẻ tự kỉ đạt 1,65 điểm và khả năng thích ứng môi trường sống tăng cao hơn đáng kể so với việc can thiệp cô lập tại các trung tâm chuyên biệt.

Phương pháp cắt khúc thời gian được vận hành như thế nào trong lớp mầm non hòa nhập? Phương pháp cắt khúc thời gian thực hiện việc chia nhỏ các hoạt động học tập kéo dài thành các phân đoạn ngắn từ 15-20 phút, xen kẽ với các hoạt động vận động nhẹ hoặc nghỉ ngơi thư giãn. Khi giáo viên quan sát thấy trẻ tự kỉ có dấu hiệu quá tải cảm giác như nhìn chòng chọc, né tránh ánh mắt hoặc rời vị trí, giáo viên sẽ chuyển hướng trẻ sang góc vận động tĩnh để giải tỏa căng thẳng trước khi quay lại bài học.

Bộ công cụ đánh giá khả năng hòa nhập của trẻ tự kỉ trong luận văn gồm những tiêu chí nào? Nghiên cứu sử dụng thang đo chuẩn hóa gồm 5 tiêu chí cốt lõi: Kỹ năng tập trung chú ý (5 chỉ số), Kỹ năng bắt chước (5 chỉ số), Kỹ năng luân phiên (5 chỉ số), Kỹ năng hiểu ngôn ngữ (5 chỉ số) và Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (5 chỉ số). Mỗi chỉ số được lượng giá theo thang 3 mức điểm: 1 điểm (chưa hòa nhập), 2 điểm (hòa nhập có trợ giúp) và 3 điểm (tự lực hòa nhập).

Tại sao kỹ năng luân phiên và tập trung chú ý của trẻ tự kỉ lại đạt mức điểm thấp nhất? Khảo sát thực tế trên 35 trẻ tự kỉ tại 5 trường mầm non cho thấy điểm trung bình của kỹ năng luân phiên và tập trung chú ý chỉ đạt 1,48 điểm. Nguyên nhân bắt nguồn từ khiếm khuyết thần kinh đặc thù của hội chứng tự kỉ khiến trẻ gặp khó khăn trong việc duy trì giao tiếp mắt, không thể kiên nhẫn chờ đến lượt khi xếp hàng chơi đồ chơi và thiếu phản xạ đáp ứng các hiệu lệnh hội thoại hai chiều.

Kết quả thực nghiệm can thiệp sư phạm trên các ca điển hình đã đem lại sự chuyển biến cụ thể ra sao? Thực nghiệm sư phạm trên bé PA và bé NH tại trường mầm non cho thấy sau 3 tháng áp dụng đồng bộ hệ thống 6 biện pháp (kế hoạch cá nhân, hỗ trợ nhóm bạn 3-6 trẻ, phương pháp ABA và PECS), điểm kỹ năng hòa nhập tổng thể của trẻ đã tăng từ mức yếu 1,40 điểm lên mức khá 2,35 điểm, trẻ đã biết chủ động nhìn vào mắt cô giáo và bắt đầu sử dụng cử chỉ để yêu cầu giúp đỡ.

Kết luận

  • Tỷ lệ trẻ tự kỉ theo học tại các trường mầm non thành phố Thái Nguyên gia tăng 52,17% trong giai đoạn 2018-2021, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuẩn hóa mô hình giáo dục hòa nhập.
  • Thực trạng mức độ tham gia hòa nhập của trẻ tự kỉ ở mức yếu với điểm trung bình chung là 1,57 điểm, trong đó kỹ năng tập trung chú ý và luân phiên là hai rào cản lớn nhất (đạt 1,48 điểm).
  • Luận văn đã xác lập hệ thống 6 nhóm giải pháp sư phạm toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa các liệu pháp chuyên biệt (ABA, PECS, RDI) với quy trình sinh hoạt mầm non thường nhật.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi vượt trội khi nâng điểm số kỹ năng hòa nhập của trẻ can thiệp từ 1,40 lên trên 2,35 điểm chỉ sau một học kỳ.
  • Đề tài đề xuất khung lộ trình 6-12 tháng để Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thái Nguyên nhân rộng mô hình can thiệp cá nhân hóa tại 100% cơ sở mầm non công lập và ngoài công lập.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Nghiêm Thị Thanh Hằng là tài liệu khoa học thiết thực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại phía sau. Các nhà trường, giáo viên và phụ huynh hãy chủ động áp dụng ngay các biện pháp can thiệp có cấu trúc này để mở ra tương lai hòa nhập tươi sáng cho trẻ tự kỉ.