Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức, giáo dục đạo đức, vai trò và nhiệm vụ của thanh niên. Quan niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong các trường phái triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La Tinh là mos (moris) có nghĩa là lề thói, đạo nghĩa.
Còn luân lý được xem như đồng nghĩa với đạo đức thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp nhau hằng ngày. Ở Á Đông, theo Nho giáo, đạo đức được lý giải ở cương thường hay rộng ra là luân thường. Đạo là chỉ những mối quan hệ nhằm duy trì một trật tự từ gia đình tới xã hội.
Đó là quan hệ vua – tôi, cha mẹ - con, chồng - vợ, anh – em, bạn bè. Trong năm mối quan hệ trên, ba quan hệ đầu là phục tùng, tạo thành tam cương: bầy tôi phải trung thành với vua, con phải hiếu với cha mẹ, vợ phải phục tùng chồng. Từ đó có thể hiểu: “Đạo chính là đường đi lối lại của nề nếp, có phép tắc rõ ràng. Theo nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này, đạo là con đường đúng đắn từ nơi đi cho đến nơi tới.
Đạo là hệ thống những nguyên lý, những phép tắc, những vận động cơ bản của sự vận động” [28, tr108]. Đức là những quy định, những yêu cầu phải thực hiện cho đúng trách nhiệm của mỗi giới, mỗi người. Ví dụ đối với nữ giới, yêu cầu là phải thực hiện tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh. Đối với nam giới: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.
Đức là biểu hiện của Đạo, là kết quả vận động của đạo. Đạo mà không đúng đức cũng không có “Đạo là cái vật phải theo, đức là vật có được do theo đạo” [28, tr. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quá trình hình thành và phát triển của đạo đức thì các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về đạo đức: Theo từ điển viết: Đạo là nhiều tài nghệ, đức là tu hành tột cùng, hiểu theo nghĩa hẹp người có đạo đức là người có tài nghệ và nết hạnh tốt. Còn trong từ điển triết học lại định nghĩa: đạo đức hay luân lý là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những nguyên lý hay đạo lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và cộng đồng.
Trong đạo đức, nhu cầu và lợi ích của toàn xã hội hoặc của một bộ phận xã hội mà quan trọng nhất là của giai cấp được phản ánh một cách đặc trưng bằng hệ thống tiêu chuẩn, gọi là tiêu chuẩn đạo đức. Trên cơ sở của các tiêu chuẩn này, các quy tắc xử sự chung gọi là các quy phạm đạo đức được hình thành. Trong xã hội, những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổn phận mà tất cả mọi người đều phải làm theo, không trừ một ai, là như nhau với tất cả mọi người. Trong cơ chế thực hiện các quy phạm đạo đức, ý thức biểu hiện cả dưới hình thức cảm xúc của tình cảm, động cơ, ham muốn, và như vậy cá nhân vừa thể hiện với tư cách là khách thể, vừa thể hiện với tư cách là chủ thể đã ý thức được sự kiểm tra của xã hội, nghĩa là thể hiện một nhân cách đạo đức.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức xét đến cùng là sự phản ánh các quan hệ xã hội, giá trị đạo đức được thể hiện ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội, vì hạnh phúc của con người. Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, một phương thức điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua một hệ thống những giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực biểu thị sự quan tâm tự nguyện, tự giác của con người, với con người trong quan hệ giữa con người 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có chức năng điều chỉnh hành vi của con người.
Đạo đức là những nguyên tắc sống, những quy phạm phù hợp với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Mỗi chế độ xã hội khác nhau có những quy phạm đạo đức khác nhau. Giai cấp nào thống trị về kinh tế cũng thống trị về đạo đức và tư tưởng văn hoá. Khi giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đạo đức của nó đại diện cho nền đạo đức tiến bộ.
Còn các giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Mỗi thời kỳ lại có những quan niệm và quy định đạo đức khác nhau về tốt, xấu, lương thiện. Bàn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin cho rằng “đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội của những người cộng sản” [51, tr. Đây là quan điểm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới.
Từ những điều trên thì tựu chung đạo đức hiểu theo hai nghĩa như sau: Hiểu theo nghĩa hẹp: Đạo đức là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người. Hiểu theo nghĩa rộng: đạo đức liên quan chặt chẽ đến phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống thì đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách nó phản ánh bộ mặt của nhân cách, của một cá nhân đã được xã hội hóa. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại. Có thể nói, đạo đức là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người này với người khác.
Đạo đức luôn là mối quan hệ hai chiều, đòi hỏi mỗi người phải thực hiện theo đúng vị trí của mình trong mối quan hệ giữa các thành viên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong gia đình hay ngoài xã hội. Đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, là phương thức điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Giáo dục đạo đức là nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn bộ hoạt động giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành và phát triển nhân cách. Giáo dục đạo đức phải trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn đề trong chiến lược giáo dục và đào tạo vì sự phát triển con người và phát triển xã hội.
Đối tượng của giáo dục là con người. Từ lúc sinh ra, rồi lớn lên và trưởng thành - cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, tức là toàn bộ đời sống sinh lý - tâm lý - cho đến suốt cuộc đời sau này gắn với nghề nghiệp và hoạt động xã hội, với tư cách là một con người của xã hội, một công dân của nhà nước, một cá nhân - chủ thể của hoạt động, một cái Tôi - Nhân cách, con người luôn luôn ở trong những ảnh hưởng và tác động của giáo dục. Hơn nữa, có thể nói, mọi nội dung, mọi phương thức, hình thức giáo dục, mọi con đường dẫn tới thực hiện chương trình giáo dục xã hội, mọi nỗ lực mà giáo dục xã hội huy động đều quy tụ vào giáo dục đạo đức làm người, nói rộng ra là giáo dục văn hóa làm người, lấy văn hóa đạo đức làm nền tảng và là cái cốt lõi. Giáo dục đạo đức là cái căn bản của mục tiêu giáo dục con người, giáo dục nhân cách.
Nội dung của giáo dục đạo đức, nói một cách tổng quát, bao gồm giáo dục nhận thức để hình thành và phát triển những xúc cảm, tình cảm đạo đức trong sáng, cao quý thuộc về nhân tính của con người; xây dựng niềm tin đạo đức dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa nhận thức và tình cảm đạo đức đã đạt được; tập luyện hành vi và trau dồi thói quen trong những ứng xử đạo đức hàng ngày giữa người với người… Nhu cầu đạo đức và văn hóa đạo đức đó chính là nhu cầu cơ bản hàng đầu của đời sống tinh thần phong phú của con người, là những giá trị và chuẩn mực đạo đức mà con người với tư cách là 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một chủ thể hoạt động đã chiếm lĩnh được, đã trở thành sự lựa chọn mang tính tự nguyện và khẳng định của bản thân mình, coi đó là giá trị và ý nghĩa của lẽ sống, biểu hiện và tự biểu hiện ra trong hình thức độc đáo của cá thể ở trong lối sống và nếp sống hàng ngày. Đó là kết quả tổng hợp của toàn bộ nội dung và quá trình giáo dục đạo đức đã nêu trên, trong đó cần phải đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của bồi dưỡng tình cảm đạo đức và trau dồi, tập luyện các hành vi, thói quen đạo đức. Giáo dục đạo đức không dừng lại ở nhận thức, tức là cung cấp những hiểu biết để hình thành ý thức và niềm tin cho con người về sự cần thiết phải có đạo đức, sống phù hợp với những giá trị và chuẩn mực đạo đức mà xã hội đòi hỏi đồng thời tham gia vào cuộc đấu tranh vì một đời sống đạo đức tốt đẹp của con người và xã hội. Phương diện giáo dục nhận thức đạo đức tuy rất quan trọng nhưng nó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ.
Người có hiểu biết lý trí đạo đức chưa hẳn là người có đạo đức nếu nó không thể hiện sự hiểu biết đạo đức đó thành hành vi, hành động đạo đức trong thực tiễn.