Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa Lương Gia Ban (1999), Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [1]. Tác giả cho rằng chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa là sự thống nhất lòng yêu Tổ quốc và lòng yêu chủ nghĩa xã hội, là ý thức chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, ý thức đấu tranh xóa bỏ áp bức bóc lột vươn tới sự công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc trong Tổ quốc phồn thịnh.
Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa có một bản chất duy nhất, đó là bản chất giai cấp công nhân hiện đại, với sứ mệnh cao quý là thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa yêu nước là sự kết tinh cao nhất của bản chất và truyền thống dân tộc được thấm nhuần sâu sắc và triệt để bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, thấu suốt các quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế của thời đại. Bài viết đã làm rõ quá trình phát triển nhận thức để Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đã đến với chủ nghĩa quốc tế vô sản và đưa ra tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong giai đoạn hiện nay để tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, về sự gắn bó giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, theo tác giả cần thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, đặt cách mạng Việt Nam trong bối cảnh 8 chung của cách mạng thế giới, kết hợp lợi ích dân tộc với lợi ích chung của nhân dân các nước.
Thứ hai, chăm lo giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế của giai cáp công nhân. Thứ ba, đoàn kết, hợp tác quốc tế trên cơ sở nêu cao ý chí tự lực, tự cường. Tác giả đã luận giải những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng NDCM Lào, tư tưởng Cayxỏn Phômvihản về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục chính trị; thực trạng của công tác giáo dục chính trị, nêu lên những ưu điểm, hạn chế, yếu kém, chỉ ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của thực trạng.
Nguyễn Sỹ Quyết Tâm (2007), Về tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Khoa học chính trị, Số (5) [82] Tác giả đưa ra định nghĩa về tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện ở những khía cạnh cơ bản: Một là, sự thống nhất giữa yêu nước, yêu nhân dân với yêu chủ nghĩa xã hội tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, sự thống nhất giữa suy nghĩ và hành động, tình cảm và lý trí để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Ba là, ý thức tự giác, tự tin, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bốn là, sự thống nhất giữa nhận thức và hạnh động theo chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Tác giả cũng cho rằng tinh thần yêu nước Việt Nam hình thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tinh thần yêu nước 9 đã trở thành động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thôi thúc con người Việt Nam vượt qua mọi khó khăn gian khổ, giành được những thắng lợi. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào (2009), Một số lý luận và thực tiễn về công tác dân vận - phát triển nông thôn toàn diện, gắn với xây dựng làng vững mạnh về mặt quốc phòng, Nxb Quân đội nhân dân Lào, Viêng chăn [184]. Cuốn sách đã chỉ ra vấn đề quan trọng hàng đầu cần phải giải quyết trong lãnh đạo chiến tranh nhân dân là tập trung vào vận động, tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân về trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào xã hội chủ nghĩa, giáo dục tinh thần yêu nước, yêu quê hương, yêu chủ nghĩa xã hội, lý tưởng cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nơi căn cứ địa; làm công tác vận động cách mạng phải căn cứ vào dân, lấy dân làm cơ sở, dám đi, dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với dân, để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Trong bài viết này, tác giả đã nêu một cách khái quát lịch sử và chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong lịch sử đấu tranh giải phóng đất nước, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
Theo tác giả, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cũng là một trong những động lực thúc đẩy và tạo nên những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước. Do vậy, để xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, cần tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Lại Quốc Khánh (2011), Nhận diện và định vị chủ nghĩa yêu nước trong chiến lược xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, Tạp chí Triết học, Số (5) [18]. Trong bài viết này, tác giả đã góp phần làm rõ thêm nội dung khái niệm chủ nghĩa yêu nước, trên cơ sở đó nhận diện những nội dung, khía 10 cạnh cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Đồng thời, tác giả đã phân tích vai trò của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong chiến lược phát triển trí tuệ nhằm chấn hưng đất nước. Những luận điểm sâu sắc của Hồ Chí Minh cho rằng “đã là con lạc cháu hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc” và “độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phức của đồng bào” mang ý nghĩa phương pháp luận cho việc xây dựng và thực thi chiến lược phát triển trí tuệ ở Việt Nam hiện nay. Nguyễn Đình Bắc (2011), Phát huy chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, Số (3) [3]. Tác giả đã làm rõ khái niệm chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam và những biểu hiện cụ thể của nó qua các thời kỳ lịch sử.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm khơi dậy, bồi đắp và phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. Nguyễn Đình Bắc (2012), Sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Triết học, Số (5) [4]. Trong bài viết tác giả tập trung phân tích: Một là, nền tảng của sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, đặc trưng của sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ba là, giá trị lịch sử và hiện thực của sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Trước sự thay đổi của tình hình thế giới và Việt Nam, tác giả bài viết đã đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần phải giải quyết: Một là, cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, giáo dục lòng yêu nước cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt 11 là thanh, thiếu niên. Hai là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện nay, khẳng định sự gắn kết độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Ba là, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến toàn thế giới, tạo ra những thách thức và cơ hội phát triển cho tất cả các quốc gia, dân tộc.
Bốn là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tấng lớp tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trần Đình Huỳnh và Lê Quang Đồng (2014), Phát triển tinh thần yêu nước trong tình hình mới, Tạp chí Xây Dựng Đảng, Số (8) [17]. Phát triển tinh thần yêu nước của toàn dân tộc là nhiệm vụ có tính sống còn của Tổ quốc Việt Nam, của các nhà lãnh đạo quốc gia và mỗi người Việt Nam. Đó cũng chính là điều kiện bảo đảm cho độc lập, tự chủ, hạnh phúc của dân tộc.
Đó là vấn đề thường xuyên, lâu dài lại vừa cấp bách, nóng hổi tính thời sự. Để phát triển tinh thần yêu nước, tác giả bài viết đã nêu một số điểm chủ yếu: Một là, tiếp tục đánh thức và nuôi dưỡng lòng yêu nước, tự tôn, tự trọng và tự hào dân tộc, khát vọng và quyết tâm hành động để giữ vững toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, thềm lục địa, vùng trời, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Hai là, đấu tranh giành lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng là công việc khó khăn, lâu dài nhưng nhất quyết chúng ta không được nản chí. Ba là, việc giáo dục ý thức và hành vi yêu nước hiện nay cần phải làm cho toàn Đảng và mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước cùng thấm nhuần sâu sắc lời căn dặn của Bác Hồ: “dân giàu nước mạnh”.
Chỉ có giàu mạnh thì chúng ta mới có thể giữ vững chủ quyền quốc gia.