CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về giao dịch bảo đảm 1. Cơ sở lí luận của giao dịch bảo đảm Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm được thông báo làm cho việc thể chế hoá pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm của nước ta bước đầu có hiệu quả, làm cho người dân và doanh nghiệp thuận lợi hơn khi tiến hành tìm hiểu và ứng dụng PL. Những quy định mới này đã dẫn đến chuyển biến tích cực khi thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm, góp phần khẳng định vị trí của đăng ký giao dịch bảo đảm một cách chính xác hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến các bên tham gia giao dịch và những bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bên cạnh đó ảnh hưởng đến tăng trưởng nền KT- XH khá lớn như: - Đối với bên nhận bảo đảm Đây là một trong các phương thức nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bên nhận bảo đảm.
Ở các nước, pháp luật về GDBĐ đều đồng ý việc hoạt động này được thực hiện có ý nghĩa thông báo quyền lợi của bên nhận bảo đảm với người thứ ba và tất cả những ai (người thứ ba) xác lập giao dịch gắn với tài sản bảo đảm đều được đòi hỏi phải biết về sự hiện có của những quyền gắn với tài sản bảo đảm đã được đăng ký. Ngoài ra, việc này còn làm cho bên nhận bảo đảm có được số lượng ưu tiên trả tiền khi giải quyết tài sản bảo đảm so với các chủ nợ khác. Điều kiện đã được thông báo chi tiết là "ai đăng ký trước hoặc hoàn thiện lợi ích bảo đảm trước thì được ưu tiên trước". - Đối với bên bảo đảm 4 Lúc dùng tài sản nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ không được tác động tới hoạt động SX, KD và sinh hoạt của bên bảo đảm.
Hoạt động đó ảnh hưởng rất lớn trong nền tài chính hiện đại. Nhờ hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vừa có được mục tiêu dùng tài sản nhằm bảo đảm hoạt động tiến hành nghĩa vụ, vừa tiếp tục được mục đích sản xuất - kinh doanh của mình. Từ lợi ích có được từ việc tìm kiếm tài sản bảo đảm làm cho bên nhận bảo đảm từng bước lấy lại vốn, tái đầu tư và trả tiền được nợ cho bên nhận bảo đảm. Vì thế, nếu phải đưa tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hay người thứ ba giữ, thì tất cả hoạt động SX - KD của bên bảo đảm bị ngừng lại.
Hoạt động đó đi ngược lại với đòi hỏi của GDBĐ bây giờ, đó là vừa làm cho các đưa dịch được an toàn, vừa làm cho cho tăng trưởng KT - XH. - Đối với bên thứ ba Trong không ít tình huống, do không đủ dữ liệu nên bên thứ ba thực hiện không khó cho rằng tài sản vẫn chưa được dùng để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa vụ nào ở hiện tại. Việc công khai hóa dữ liệu về GDBĐ được đăng ký là một phương án xử lý, chi tiết là bên thứ ba thực hiện tìm hiểu dữ liệu tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm để biết được những GDBĐ gắn với tài sản bảo đảm đã xuất hiện từ trước, vì những dữ liệu về GDBĐ được lưu giữ, thông báo rộng rãi. Nhờ đó, rủi ro pháp lý trong giao dịch sẽ giảm thiểu, nhất là trong tình huống tài sản bảo đảm vẫn do bên bảo đảm chiếm giữ, khai thác.
- Đối với nền KT - XH Nền KT – XH tăng trưởng đòi hỏi mạng lưới đăng ký giao dịch bảo đảm phải thực sự hiện đại, khoa học. Khi GDBĐ được đăng ký chuẩn chỉnh, không gặp khó khăn với chi phí đăng ký hợp lý thì chi phí giao dịch (gồm chi phí về thời gian, công sức, tiền của.) trong XH sẽ ở mức không cao, nhờ đó, tính cạnh tranh của nền KT sẽ tăng cao. 5 Mạng lưới đăng ký giao dịch bảo đảm hoạt động tốt sẽ làm tăng hoạt động cho vay đáp ứng đòi hỏi vốn trong XH, lúc đó nguồn vốn trong XH sẽ được thay đổi không ngừng, giải quyết được hiện tượng thiếu vốn và không cân đối về đòi hỏi vốn giữa các thành phần KT. Cơ sở thực tiễn của giao dịch bảo đảm Thực hiện nói, giai đoạn vừa rồi, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa rất chủ chốt trong việc công khai và minh bạch các GDBĐ.
Thứ nhất, làm cho người dân và những DN có thêm cơ hội đến gần với những nguồn vốn nhằm tăng trưởng sản xuất, kinh doanh. Thứ hai, việc đăng ký giao dịch bảo đảm cũng làm cho những nhà đầu tư, những đơn vị tín dụng, đơn vị và cá nhân khác có nguồn dữ liệu để xem xét, tìm hiểu trước khi nghiên cứu, quyết định ký kết HĐ nói chung cũng như thực hiện đầu tư và cho vay nói riêng (Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà, Phan Thanh Huyền, 2013). Mặc dù vậy, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm vẫn tồn tại một số nhược điểm là các tiêu chuẩn về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định không tập trung tại không ít giấy tờ làm cho việc tìm kiếm, sử dụng PL còn gặp không ít khó khăn. Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản thì thực hiện đăng ký tại Văn phòng đăng ký QSD đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường các cấp.
Hiện nay đang tồn tại một hiện thực là, có DN phải thế chấp, cầm cố không ít tài sản để chắc chắn thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại một ngân hàng thì DN được đòi hỏi phải đi đến không ít cơ quan để tiến hành việc đăng ký giao dịch bảo đảm. Ở vàitình huống, thời gian tiếp nhận hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm chưa thực hiện theo quy định, một số cơ quan lại quy định một cách không mềm dẻo là chỉ tiếp nhận hồ sơ vào vài ngày nhất định trong tuần, gây ra khó khăn cho người đi đăng ký (Nguyễn Thanh Trà, 2013), (Nguyễn Đình Bồng, 2009). Cơ sở pháp lí của đề tài * Các văn bản luật - Hiến pháp nước Cộng hòa XH chủ nghĩa Việt Nam. - Luật Đất đai năm 2003.
- Luật Đất đai, năm 2013. - Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa XH chủ nghĩa Việt Nam. * Các văn bản dưới luật - Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, quy định cụ thể thực hiện một số điều của Luật Đất đai năm 2013. - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 23/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về giấy chứng nhận QSD ĐẤT, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 24/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính. - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 25/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về bản đồ địa chính. - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Thông tư liên tịch số 09/2017/TTLTBTP-BTNMT ngày 23 tháng 6 năm 2017 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đăng ký thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất. - Quyết định số 96/2014/QĐ-UBND ngày 29/12/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, về việc quy định bảng giá đất thời kỳ 2015-2019 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Quyết định số 2831/QĐ-UBND ngày 23 tháng 7 năm 2015 của UBND thành phố Hà Nội về việc thông báo Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Tài nguyên và Môi trường áp dụng tại Văn phòng đăng ký QSD đất cấp tỉnh, cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội (Lĩnh vực Đăng ký giao dịch bảo đảm). 7 - Quyết định số 72/2014/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2014 của UBND thành phố Hà Nội về việc đưa ra Quy định về mức độ giới hạn số lượng giao đất ở; mức độ giới hạn số lượng giao đất chưa sử dụng để dùng cho mục đích nông nghiệp; mức độ giới hạn công nhận số lượng đất ở đối với thửa đất có vườn ao; mức độ giới hạn công nhận số lượng đất nông nghiệp do tự khai hoang và số lượng tối thiểu của thửa đất ở sau khi tách thửa trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Quyết định số 1963/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2017 của UBND thành phố Hà Nội về việc thông báo Thủ tục hành chính liên thông thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Tài nguyên và Môi trường áp dụng tại UBND cấp huyện, cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khái quát về giao dịch bảo đảm 1.
Định nghĩa về giao dịch bảo đảm GDBĐ là giao dịch dân sự do các bên thương lượng hay PL quy định về việc thực hiện phương án bảo đảm (Điều 292 của Bộ luật dân sự (BLDS) 2015). Những hoạt động bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản (Điều 292 của Bộ luật dân sự 2015) Tại Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Cầm cố tài sản là việc một bên đưa tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tại Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Thế chấp tài sản là việc một bên sử dụng tài sản do mình sở hữu nhằm bảo đảm tiến hành nghĩa vụ và không đưa tài sản cho bên kia. Tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Đặt cọc là khi một bên đưa cho bên kia một số lượng tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời gian nhất định nhằm bảo đảm việc tiến hành kí kết hoặc hợp đồng được thực hiện.
8 Tại Điều 329 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Ký cược là khi bên thuê tài sản là động sản đưa cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời gian nhất định nhằm bảo đảm bên kia sẽ trả lại tài sản thuê. Tại Điều 330 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Ký quỹ là khi bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản đã được phong tỏa của một đơn vị tín dụng nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.2 Quy trình giao dịch Văn phòng Đăng ký đất đai sẽ thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm dựa trên thứ tự, thủ tục đã được quy định ở Nghị định số 43/2014/NĐ- CP và các thông tư có liên quan.