CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆT KIỀU Ở VÙNG ĐÔNG BẮC THÁI LAN 1. Vài nét về tỉnh Nakhon Phanom1 Tỉnh Nakhon Phanom nằm trong vùng Đông Bắc của Thái Lan với diện tích khoảng 5.512,7 km2, cách Bangkok khoảng 740 km. Tỉnh có sông Mekong chảy qua với chiều dài khoảng 153 km. Phía Bắc của tỉnh giáp huyện Seka và tỉnh Nong Khai, phía Đông giáp tỉnh Khammouane (Lào), phía Nam giáp với huyện Don Luang và huyện Wa Yai của tỉnh Mukdahan, phía Tây giáp các huyện Kusuma, Am Nuay và Muong của tỉnh Sakon Nakhon.
Về lịch sử, tỉnh Nakhon Phanom có nghĩa là thành phố nằm trong núi. Xưa kia, tỉnh Nakhon Phanom là cố đô của vương quốc Srikhottaboon (Phật lịch thứ 12). Trong phật lịch thứ 18, Srikhottaboon nằm trong quyền của đế chế Lan Chang ở Pak Huay (bên trái đối diện Tha Uthen, nằm phía Bắc tỉnh Nakhon Phanom) sau đó chuyển sang đóng đô tại Huay Sri Mung ven bên trái của sông Mekong (Cố đô Thakhek hiện nay). Năm 1754, tên gọi mới được đặt là Mukkharanakhon sau khi vua Nakaranurak nắm quyền.
Vào thời vua Rama I, tỉnh này được đặt tên là Nakhon Phanom. Về địa giới hành chính và dân số, năm 2009, tỉnh Nakhon Phanom được chia thành 12 huyện (Muang Nakhon Phanom, Tha Uthen, That Phanom, Na Kae, Ban Peang, Pla Pak, Sri Songkhram, Ranu Nakhon, Na Wa, Phon Sawan, Na Thom, Wang Yang) với 97 xã và 1.123 làng với tổng số dân là 704,768 người. Các thông tin cụ thể về tỉnh Nakhon Phanom có thể xem tại http://www.th/nakhonphanom/dataprovince.php 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về kinh tế, trong năm 2009, thu nhập bình quân của người dân tỉnh Nakhon Phanom là 41.270 USD), đứng thứ 15 trong số các tỉnh Đông Bắc và đứng thứ 62 trong số các tỉnh và thành phố của cả nước. Nông nghiệp chiếm 72.07% cơ cấu kinh tế của tỉnh với các sản phẩm nông nghiệp quan trọng như gạo, cao su, sắn, dứa.
Ngoài ra, tỉnh có quan hệ kinh tế với Lào, nhập khẩu các sản phẩm dệt may, gỗ, máy móc,.và xuất khẩu các mặt hàng như nước giải khát, thép, sản phẩm nông nghiệp, hàng thủ công. Về lao động, trong thời gian trước, nhiều người đi xuất khẩu lao động tại Trung Đông, nhưng hiện nay họ sang lao động ở Singapore và Đài Loan. Lao động trong nước làm tại các khu công nghiệp như nhân viên sản xuất, xây dựng, và nông nghiệp. Chính sách của tỉnh là thúc đẩy “kinh tế biên giới” với việc thành lập khu vực phi thuế quan, và là trung tâm phân phối sản phẩm.
Tỉnh ủng hộ doanh nghệp đầu tư trong nước và nước láng giềng. Về dân tộc và văn hóa, tỉnh Nakhon Phanom là một tỉnh sát sông Mekong, vì thế văn hóa của tỉnh là sự kết hợp văn hóa Lào-Thái Lan với 7 dân tộc chủ đạo như Thái-Lào, Phu Thái, Nho, Thái Số (Thái Ka Cho), Thái Ka Lueng, Thái Kha, và Thái Sec. Ngoài ra còn có cộng đồng người Việt (với khoảng 10.000 người với 1.600 gia đình) và người Hoa. Các dân tộc có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bản sắc văn hóa của họ vẫn tồn tại đến nay. Tỉnh Nakhon Phanom có các lễ truyến thống từ ngày xưa, hầu hết các lễ hội liên quan đến tôn giáo và cuộc sống của người dân như: lễ buộc tay để cầu may, lễ thắp hương chùa Pha Than Pha Nom, lễ té nước, máu của người Phú Thái. Văn hóa truyền thống của họ cũng giống như tỉnh khác ở Đông Bắc như Tết Thái Lan (tết té nước) vào tháng 5 theo lịch Thái Lan. Tỉnh Nakhon Phanom có 95% dân số theo đạo Phật 3,9% theo Thiên Chúa giáo, còn các tôn giáo khác chiếm 1,1% dân số.
Về giáo dục, năm 2010, tỉnh Nakhon Phanom có tất cả các trường 447 trường học các cấp, trong đó có 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trường đại học lớn là Trường Đại học Nakhon Phanom và Trường Đại học Ramkhamhaeng. Về du lịch, Nakhon Phanom phát triển du lịch lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật, văn hóa, thiên nhiên, và ủng hộ du lịch trên sông Mekong với các hoạt động như thăm Pha Than Phanom (Chùa Phanom), đi thuyền trên sông để ngắm cảnh hoặc sang Lào, Chợ Đông Dương, Nhà thờ Nong Seang, bào tàng nhà Hồ Chí Minh, Làng hữu nghị Thái-Việt.Về cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan 1. Giai đoạn trước năm 1946 Những từ “Duôn Kàu (người Việt cũ)” và “Duôn Mại (người Việt mới)” hoặc “Duôn Ộp Pạ Dốp” đã xuất hiện sau khi người Việt Nam di cư tới Thái Lan trong chiến tranh thế giới thứ II. Những thuật ngữ này để phân loại nhóm và thời gian khác nhau của người Việt di cư vào Thái Lan.
Như vậy, theo pháp luật Thái Lan, “Duôn Mại” hoặc người Việt di cư sau chiến tranh thế giới thứ II gọi là “Duôn Ôp Pa Dốp”. Nhưng người Việt Nam đã di cư từ thời Ayutthaya đến trước chiến tranh thế giới thứ II gọi là “Duôn Kàu”.2 “Duôn Kàu (người Việt cũ)” đã di cư tới Xiêm từ triều đại Ayutthaya nhưng hiện nay không còn những truyền thống của người Việt Nam nữa, vì văn hóa của họ đã thay đổi và đồng hóa với người bản địa Thái Lan. Nhóm này sống trong khu vực miền trung của Thái Lan, như Bangkok, Kanchanaburi, Chanthaburi, Ayutthaya. Sau đó có một nhóm di cư vào Đông Bắc trong cuối thế kỷ XIX và một nhóm nữa di cư đầu thế kỷ XX.
Nhóm này theo đạo Thiên Chúa và một số người theo đạo Phật (An nam)”.3 Một nguyên nhân quan trọng khiến người Việt tới vùng Đông Bắc Xiêm thời kỳ này là do Vua Rama IV là người có đầu óc canh tân đất nước, 2 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Viet Kieu inThailand in Thai-Vietnamese Relationship, Siboon computer, Bangkok, tr. 3 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Tài liệu đã dẫn, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có chủ trương khai phá mở mang vùng Đông Bắc. Chủ trương này đã tạo thuận lợi lớn cho người Việt Nam nhập cư vào vùng này và những người đến đây chủ yếu từ các tỉnh miền trung Việt Nam như Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Hầu hết người dân khu vực này đều gặp nhiều khó khăn trong vấn đề nông nghiệp. Như vậy, chỉ đến những năm giữa thế kỷ 19 mới hình thành những cộng đồng người Việt đông đảo đầu tiên tại Xiêm. Họ được đón nhận và nhà nước Xiêm tạo khá nhiều điều kiện thuận lợi cho việc định cư ban đầu. Thành phần người Việt di cư đến Đông Bắc Xiêm lúc này chủ yếu là những người theo Đạo Thiên chúa, ước tính có khoảng 4000 người sang định cư ở Nakhon Phanom và Sakon Nakhon.
Những người Việt ở đây họ gọi nhau là “người Việt thời Tự Đức”. Họ tập trung đông nhất ở huyện Thare, tỉnh Sakhon Nakhon. Thare là một huyện nằm cách trung tâm thành phố Sakon Nakhon khoảng 20km, có hồ Nọng Hản lớn thứ 3 của Xiêm nên có điều kiện thuận lợi cho người Việt sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Họ đã dựng nhà thờ Thiên chúa (Nhà thờ Thare) ngay gần hồ Nọng Hản.4 Người Việt Nam theo đạo Thiên chúa ở Đông Bắc Thái Lan sống chủ yếu ở Tha re, Nong Seang, tỉnh Nakhon Phanom.
Họ đã chia khu vực ở với người theo đạo Phật, nhưng không phân ra với nhau”.5 Cũng trong thế kỷ XIX, đặc biệt là kể từ triều vua Minh Mạng (1820 - 1841) đến khi Pháp xâm chiếm Bắc kỳ, do những quan lại phản đồng người Việt ngược đãi đối với các giáo dân nên một số người đã phải chạy sang Thái lánh nạn vì ở đây chính quyền bao dung hơn, một số người đã chạy sang tỉnh Chan Thaburi (nằm ở phía Đông Nam Thái Lan) bằng đường biển và một số đi bằng đường bộ qua Lào và Đông Bắc Thái Lan. Một số đông người Việt vì lý do về kinh tế, và do đàn áp của thực dân Pháp cũng vượt sông Mekong 4 Nguyễn Hồng Quang (2007), Đời sống văn hóa của cộng động người Việt Nam tại Đông Bắc Thái Lan, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, tr. 5 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Sách đã dẫn, tr. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sang Thái Lan làm ăn và lánh nạn.
Vào đầu năm 1881, các nhà truyền giáo Gia tô người Pháp ở bắc Việt Nam và Lào đã mở rộng các hoạt động của họ sang Đông Bắc Thái Lan. Do thiếu giáo hội nên họ hướng ảnh hưởng của mình vào các làng, đặc biệt ở một số làng như Thare (Sakon Nakhon) và Thabo (Nong Khai). Hầu như toàn bộ dân ở đây đã theo công giáo, trong đó phần đông là người Việt. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỳ XX (vào triều đại vua Rama V của Xiêm 1868-1910), sau khi hoàn tất việc xâm chiếm, thực dân Pháp đã tăng cường sự đô hộ đối với nhân dân Việt Nam.
Pháp đã đưa ra nhiều chính sách sưu thuế nặng nề và bắt phu dịch đã khiến hàng loạt người Việt Nam rời bỏ làng quê ra đi tìm nơi đất mới làm ăn sinh sống. Một số người dân miền Trung Việt Nam đã sang Lào, một số đã vượt sông Mekong sang Đông Bắc Thái Lan. Bên cạnh đó, phong trào chống chủ nghĩa thực dân diễn ra trên khắp Việt Nam đặc biệt là ở miền Trung như Phong trào Cần Vương, sau đó là phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Đầu thế kỷ XX, các phong trào trên lắng xuống, số đông các nhà yêu nước cùng những người có tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc đã chạy sang cư trú ở Xiêm để tìm đường cứu nước vì nơi đây an toàn hơn cả.
Vì vậy, lại có một đợt nhập cư mới vào Xiêm giai đoạn này.6 Nhìn chung trong thời kỳ này, những nhà hoạt động yêu nước Việt Nam bắt đầu coi Xiêm là mảnh đất tương đối an toàn để thoát khỏi sự đàn áp của thực dân Pháp. Lúc này, người Thái cũng có sự giúp đỡ và khuyến khích người Việt vì họ cho rằng nếu các quốc gia ở Đông Dương thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp, tình hình sẽ bớt rối ren hơn. Tiêu biểu trong thời gian này có nhà yêu nước Phan Châu Trinh, người sáng lập ra phong trào Đông Kinh 6 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa Thục, đã lựa chọn Xiêm làm địa bàn trú chân để gửi thanh niên Việt Nam sang Trung Quốc và Nhật Bản.
Đặc biệt, những hoạt động yêu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1928-1929 lan rộng khắp ở các tỉnh Đông Bắc Xiêm. Nơi dừng chân hoạt động lâu nhất của Người là bản Na Choc, tỉnh Nakhon Phanom (hiện nay di tích này đã được hai nhà nước phát triển thành Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thái Lan).