Luận Văn Thạc Sĩ Về Giảng Dạy Việt Nam Ở Đông Bắc Thái Lan: Tỉnh Nakhon Phanom (1946-2013)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh việc giảng dạy về việt nam ở đông bắc thái lan trường hợp tỉnh nakhon phanom giai đoạn 1946, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VIỆT KIỀU Ở VÙNG ĐÔNG BẮC THÁI LAN

1.1. Vài nét về tỉnh Nakhon Phanom

1.2. Về cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

1.3. Giai đoạn trước năm 1946

1.4. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 2013

1.5. Đời sống văn hóa, kinh tế của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

2. CHƯƠNG 2: VIỆC GIẢNG DẠY VỀ VIỆT NAM Ở TỈNH NAKHON PHANOM

2.1. Khái quát về việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan

2.2. Việc giảng dạy về Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom

2.2.1. Giai đoạn trước năm 1946

2.2.2. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 2001

2.2.3. Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2013

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIẢNG DẠY VỀ VIỆT NAM Ở TỈNH NAKHON PHANOM

3.1. Tác động đến chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều

3.2. Tác động đến việc bảo tồn văn hóa Việt Nam trong cộng đồng Việt kiều

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giảng Dạy Về Việt Nam Tại Nakhon Phanom

Việc giảng dạy về Việt Nam tại Nakhon Phanom, Thái Lan, đã diễn ra trong nhiều thập kỷ, từ năm 1946 đến 2013. Đây là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử giáo dục của cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan. Nakhon Phanom, với vị trí địa lý gần gũi và mối quan hệ lịch sử với Việt Nam, đã trở thành một trung tâm giáo dục cho người Việt tại đây. Các lớp học không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo điều kiện cho thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về quê hương của tổ tiên mình.

1.1. Lịch Sử Giảng Dạy Về Việt Nam Tại Nakhon Phanom

Lịch sử giảng dạy về Việt Nam tại Nakhon Phanom bắt đầu từ những năm 1946, khi cộng đồng Việt kiều bắt đầu hình thành. Các lớp học đầu tiên chủ yếu tập trung vào việc dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Qua thời gian, nội dung giảng dạy đã mở rộng để bao gồm lịch sử, văn học và các môn học khác liên quan đến Việt Nam.

1.2. Vai Trò Của Cộng Đồng Việt Kiều Trong Giáo Dục

Cộng đồng Việt kiều tại Nakhon Phanom đã đóng góp rất lớn vào việc duy trì và phát triển giáo dục về Việt Nam. Họ không chỉ là người học mà còn là giáo viên, người truyền đạt kiến thức và văn hóa cho thế hệ sau. Sự tham gia của họ đã giúp tạo ra một môi trường học tập phong phú và đa dạng.

II. Những Thách Thức Trong Việc Giảng Dạy Về Việt Nam

Việc giảng dạy về Việt Nam tại Nakhon Phanom không chỉ gặp thuận lợi mà còn đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như chính sách của chính phủ Thái Lan, sự thay đổi trong nhu cầu học tập của học sinh, và sự cạnh tranh từ các chương trình giáo dục khác đã tạo ra áp lực lớn cho việc duy trì các lớp học này.

2.1. Chính Sách Của Chính Phủ Thái Lan Đối Với Việt Kiều

Chính phủ Thái Lan đã có nhiều chính sách ảnh hưởng đến việc giảng dạy của cộng đồng Việt kiều. Một số chính sách cấm giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam đã được ban hành, gây khó khăn cho việc duy trì các lớp học. Điều này đã tạo ra một môi trường giáo dục không ổn định cho cộng đồng.

2.2. Sự Thay Đổi Trong Nhu Cầu Học Tập

Nhu cầu học tập của học sinh cũng đã thay đổi theo thời gian. Nhiều học sinh hiện nay có xu hướng tìm kiếm các chương trình giáo dục hiện đại hơn, điều này đã làm giảm số lượng học sinh tham gia các lớp học về Việt Nam. Sự cạnh tranh từ các chương trình giáo dục khác cũng là một yếu tố cần xem xét.

III. Phương Pháp Giảng Dạy Hiệu Quả Về Việt Nam

Để đối phó với những thách thức trong việc giảng dạy về Việt Nam, các phương pháp giảng dạy hiệu quả đã được áp dụng. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra sự hứng thú cho học sinh trong việc tìm hiểu về văn hóa và lịch sử Việt Nam.

3.1. Sử Dụng Công Nghệ Trong Giảng Dạy

Việc áp dụng công nghệ vào giảng dạy đã giúp nâng cao hiệu quả học tập. Các giáo viên đã sử dụng các công cụ trực tuyến, video và tài liệu số để làm phong phú thêm nội dung giảng dạy. Điều này không chỉ giúp học sinh dễ dàng tiếp cận thông tin mà còn tạo ra một môi trường học tập thú vị.

3.2. Tích Hợp Văn Hóa Việt Nam Vào Chương Trình Học

Tích hợp văn hóa Việt Nam vào chương trình học là một phương pháp hiệu quả để thu hút học sinh. Các hoạt động như lễ hội, ẩm thực và nghệ thuật truyền thống đã được đưa vào giảng dạy, giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Việc Giảng Dạy Về Việt Nam

Việc giảng dạy về Việt Nam tại Nakhon Phanom đã có những ứng dụng thực tiễn đáng kể. Nó không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra những cơ hội cho học sinh trong việc phát triển nghề nghiệp và hòa nhập vào xã hội Thái Lan.

4.1. Tác Động Đến Sự Phát Triển Nghề Nghiệp

Việc học về Việt Nam đã mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp cho học sinh. Nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp đã có thể làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến văn hóa, du lịch và thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan.

4.2. Góp Phần Bảo Tồn Văn Hóa Việt Nam

Các lớp học về Việt Nam đã giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Học sinh không chỉ học về lịch sử mà còn tham gia vào các hoạt động văn hóa, từ đó tạo ra một cộng đồng gắn kết và mạnh mẽ.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Giảng Dạy Về Việt Nam

Tương lai của việc giảng dạy về Việt Nam tại Nakhon Phanom phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự hỗ trợ từ chính phủ, sự tham gia của cộng đồng và nhu cầu học tập của học sinh. Việc duy trì và phát triển các lớp học này là cần thiết để bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ Thái Lan để tạo điều kiện cho việc giảng dạy về Việt Nam. Điều này bao gồm việc cung cấp tài liệu, đào tạo giáo viên và tạo ra các chương trình hợp tác giữa hai nước.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng trong việc duy trì các lớp học. Cần khuyến khích các bậc phụ huynh và các tổ chức xã hội tham gia vào việc tổ chức và hỗ trợ các hoạt động giáo dục về Việt Nam.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh việc giảng dạy về việt nam ở đông bắc thái lan trường hợp tỉnh nakhon phanom giai đoạn 1946 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆT KIỀU Ở VÙNG ĐÔNG BẮC THÁI LAN 1. Vài nét về tỉnh Nakhon Phanom1 Tỉnh Nakhon Phanom nằm trong vùng Đông Bắc của Thái Lan với diện tích khoảng 5.512,7 km2, cách Bangkok khoảng 740 km. Tỉnh có sông Mekong chảy qua với chiều dài khoảng 153 km. Phía Bắc của tỉnh giáp huyện Seka và tỉnh Nong Khai, phía Đông giáp tỉnh Khammouane (Lào), phía Nam giáp với huyện Don Luang và huyện Wa Yai của tỉnh Mukdahan, phía Tây giáp các huyện Kusuma, Am Nuay và Muong của tỉnh Sakon Nakhon.

Về lịch sử, tỉnh Nakhon Phanom có nghĩa là thành phố nằm trong núi. Xưa kia, tỉnh Nakhon Phanom là cố đô của vương quốc Srikhottaboon (Phật lịch thứ 12). Trong phật lịch thứ 18, Srikhottaboon nằm trong quyền của đế chế Lan Chang ở Pak Huay (bên trái đối diện Tha Uthen, nằm phía Bắc tỉnh Nakhon Phanom) sau đó chuyển sang đóng đô tại Huay Sri Mung ven bên trái của sông Mekong (Cố đô Thakhek hiện nay). Năm 1754, tên gọi mới được đặt là Mukkharanakhon sau khi vua Nakaranurak nắm quyền.

Vào thời vua Rama I, tỉnh này được đặt tên là Nakhon Phanom. Về địa giới hành chính và dân số, năm 2009, tỉnh Nakhon Phanom được chia thành 12 huyện (Muang Nakhon Phanom, Tha Uthen, That Phanom, Na Kae, Ban Peang, Pla Pak, Sri Songkhram, Ranu Nakhon, Na Wa, Phon Sawan, Na Thom, Wang Yang) với 97 xã và 1.123 làng với tổng số dân là 704,768 người. Các thông tin cụ thể về tỉnh Nakhon Phanom có thể xem tại http://www.th/nakhonphanom/dataprovince.php 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về kinh tế, trong năm 2009, thu nhập bình quân của người dân tỉnh Nakhon Phanom là 41.270 USD), đứng thứ 15 trong số các tỉnh Đông Bắc và đứng thứ 62 trong số các tỉnh và thành phố của cả nước. Nông nghiệp chiếm 72.07% cơ cấu kinh tế của tỉnh với các sản phẩm nông nghiệp quan trọng như gạo, cao su, sắn, dứa.

Ngoài ra, tỉnh có quan hệ kinh tế với Lào, nhập khẩu các sản phẩm dệt may, gỗ, máy móc,.và xuất khẩu các mặt hàng như nước giải khát, thép, sản phẩm nông nghiệp, hàng thủ công. Về lao động, trong thời gian trước, nhiều người đi xuất khẩu lao động tại Trung Đông, nhưng hiện nay họ sang lao động ở Singapore và Đài Loan. Lao động trong nước làm tại các khu công nghiệp như nhân viên sản xuất, xây dựng, và nông nghiệp. Chính sách của tỉnh là thúc đẩy “kinh tế biên giới” với việc thành lập khu vực phi thuế quan, và là trung tâm phân phối sản phẩm.

Tỉnh ủng hộ doanh nghệp đầu tư trong nước và nước láng giềng. Về dân tộc và văn hóa, tỉnh Nakhon Phanom là một tỉnh sát sông Mekong, vì thế văn hóa của tỉnh là sự kết hợp văn hóa Lào-Thái Lan với 7 dân tộc chủ đạo như Thái-Lào, Phu Thái, Nho, Thái Số (Thái Ka Cho), Thái Ka Lueng, Thái Kha, và Thái Sec. Ngoài ra còn có cộng đồng người Việt (với khoảng 10.000 người với 1.600 gia đình) và người Hoa. Các dân tộc có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Bản sắc văn hóa của họ vẫn tồn tại đến nay. Tỉnh Nakhon Phanom có các lễ truyến thống từ ngày xưa, hầu hết các lễ hội liên quan đến tôn giáo và cuộc sống của người dân như: lễ buộc tay để cầu may, lễ thắp hương chùa Pha Than Pha Nom, lễ té nước, máu của người Phú Thái. Văn hóa truyền thống của họ cũng giống như tỉnh khác ở Đông Bắc như Tết Thái Lan (tết té nước) vào tháng 5 theo lịch Thái Lan. Tỉnh Nakhon Phanom có 95% dân số theo đạo Phật 3,9% theo Thiên Chúa giáo, còn các tôn giáo khác chiếm 1,1% dân số.

Về giáo dục, năm 2010, tỉnh Nakhon Phanom có tất cả các trường 447 trường học các cấp, trong đó có 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trường đại học lớn là Trường Đại học Nakhon Phanom và Trường Đại học Ramkhamhaeng. Về du lịch, Nakhon Phanom phát triển du lịch lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật, văn hóa, thiên nhiên, và ủng hộ du lịch trên sông Mekong với các hoạt động như thăm Pha Than Phanom (Chùa Phanom), đi thuyền trên sông để ngắm cảnh hoặc sang Lào, Chợ Đông Dương, Nhà thờ Nong Seang, bào tàng nhà Hồ Chí Minh, Làng hữu nghị Thái-Việt.Về cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan 1. Giai đoạn trước năm 1946 Những từ “Duôn Kàu (người Việt cũ)” và “Duôn Mại (người Việt mới)” hoặc “Duôn Ộp Pạ Dốp” đã xuất hiện sau khi người Việt Nam di cư tới Thái Lan trong chiến tranh thế giới thứ II. Những thuật ngữ này để phân loại nhóm và thời gian khác nhau của người Việt di cư vào Thái Lan.

Như vậy, theo pháp luật Thái Lan, “Duôn Mại” hoặc người Việt di cư sau chiến tranh thế giới thứ II gọi là “Duôn Ôp Pa Dốp”. Nhưng người Việt Nam đã di cư từ thời Ayutthaya đến trước chiến tranh thế giới thứ II gọi là “Duôn Kàu”.2 “Duôn Kàu (người Việt cũ)” đã di cư tới Xiêm từ triều đại Ayutthaya nhưng hiện nay không còn những truyền thống của người Việt Nam nữa, vì văn hóa của họ đã thay đổi và đồng hóa với người bản địa Thái Lan. Nhóm này sống trong khu vực miền trung của Thái Lan, như Bangkok, Kanchanaburi, Chanthaburi, Ayutthaya. Sau đó có một nhóm di cư vào Đông Bắc trong cuối thế kỷ XIX và một nhóm nữa di cư đầu thế kỷ XX.

Nhóm này theo đạo Thiên Chúa và một số người theo đạo Phật (An nam)”.3 Một nguyên nhân quan trọng khiến người Việt tới vùng Đông Bắc Xiêm thời kỳ này là do Vua Rama IV là người có đầu óc canh tân đất nước, 2 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Viet Kieu inThailand in Thai-Vietnamese Relationship, Siboon computer, Bangkok, tr. 3 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Tài liệu đã dẫn, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có chủ trương khai phá mở mang vùng Đông Bắc. Chủ trương này đã tạo thuận lợi lớn cho người Việt Nam nhập cư vào vùng này và những người đến đây chủ yếu từ các tỉnh miền trung Việt Nam như Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hầu hết người dân khu vực này đều gặp nhiều khó khăn trong vấn đề nông nghiệp. Như vậy, chỉ đến những năm giữa thế kỷ 19 mới hình thành những cộng đồng người Việt đông đảo đầu tiên tại Xiêm. Họ được đón nhận và nhà nước Xiêm tạo khá nhiều điều kiện thuận lợi cho việc định cư ban đầu. Thành phần người Việt di cư đến Đông Bắc Xiêm lúc này chủ yếu là những người theo Đạo Thiên chúa, ước tính có khoảng 4000 người sang định cư ở Nakhon Phanom và Sakon Nakhon.

Những người Việt ở đây họ gọi nhau là “người Việt thời Tự Đức”. Họ tập trung đông nhất ở huyện Thare, tỉnh Sakhon Nakhon. Thare là một huyện nằm cách trung tâm thành phố Sakon Nakhon khoảng 20km, có hồ Nọng Hản lớn thứ 3 của Xiêm nên có điều kiện thuận lợi cho người Việt sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Họ đã dựng nhà thờ Thiên chúa (Nhà thờ Thare) ngay gần hồ Nọng Hản.4 Người Việt Nam theo đạo Thiên chúa ở Đông Bắc Thái Lan sống chủ yếu ở Tha re, Nong Seang, tỉnh Nakhon Phanom.

Họ đã chia khu vực ở với người theo đạo Phật, nhưng không phân ra với nhau”.5 Cũng trong thế kỷ XIX, đặc biệt là kể từ triều vua Minh Mạng (1820 - 1841) đến khi Pháp xâm chiếm Bắc kỳ, do những quan lại phản đồng người Việt ngược đãi đối với các giáo dân nên một số người đã phải chạy sang Thái lánh nạn vì ở đây chính quyền bao dung hơn, một số người đã chạy sang tỉnh Chan Thaburi (nằm ở phía Đông Nam Thái Lan) bằng đường biển và một số đi bằng đường bộ qua Lào và Đông Bắc Thái Lan. Một số đông người Việt vì lý do về kinh tế, và do đàn áp của thực dân Pháp cũng vượt sông Mekong 4 Nguyễn Hồng Quang (2007), Đời sống văn hóa của cộng động người Việt Nam tại Đông Bắc Thái Lan, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, tr. 5 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Sách đã dẫn, tr. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sang Thái Lan làm ăn và lánh nạn.

Vào đầu năm 1881, các nhà truyền giáo Gia tô người Pháp ở bắc Việt Nam và Lào đã mở rộng các hoạt động của họ sang Đông Bắc Thái Lan. Do thiếu giáo hội nên họ hướng ảnh hưởng của mình vào các làng, đặc biệt ở một số làng như Thare (Sakon Nakhon) và Thabo (Nong Khai). Hầu như toàn bộ dân ở đây đã theo công giáo, trong đó phần đông là người Việt. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỳ XX (vào triều đại vua Rama V của Xiêm 1868-1910), sau khi hoàn tất việc xâm chiếm, thực dân Pháp đã tăng cường sự đô hộ đối với nhân dân Việt Nam.

Pháp đã đưa ra nhiều chính sách sưu thuế nặng nề và bắt phu dịch đã khiến hàng loạt người Việt Nam rời bỏ làng quê ra đi tìm nơi đất mới làm ăn sinh sống. Một số người dân miền Trung Việt Nam đã sang Lào, một số đã vượt sông Mekong sang Đông Bắc Thái Lan. Bên cạnh đó, phong trào chống chủ nghĩa thực dân diễn ra trên khắp Việt Nam đặc biệt là ở miền Trung như Phong trào Cần Vương, sau đó là phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Đầu thế kỷ XX, các phong trào trên lắng xuống, số đông các nhà yêu nước cùng những người có tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc đã chạy sang cư trú ở Xiêm để tìm đường cứu nước vì nơi đây an toàn hơn cả.

Vì vậy, lại có một đợt nhập cư mới vào Xiêm giai đoạn này.6 Nhìn chung trong thời kỳ này, những nhà hoạt động yêu nước Việt Nam bắt đầu coi Xiêm là mảnh đất tương đối an toàn để thoát khỏi sự đàn áp của thực dân Pháp. Lúc này, người Thái cũng có sự giúp đỡ và khuyến khích người Việt vì họ cho rằng nếu các quốc gia ở Đông Dương thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp, tình hình sẽ bớt rối ren hơn. Tiêu biểu trong thời gian này có nhà yêu nước Phan Châu Trinh, người sáng lập ra phong trào Đông Kinh 6 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa Thục, đã lựa chọn Xiêm làm địa bàn trú chân để gửi thanh niên Việt Nam sang Trung Quốc và Nhật Bản.

Đặc biệt, những hoạt động yêu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1928-1929 lan rộng khắp ở các tỉnh Đông Bắc Xiêm. Nơi dừng chân hoạt động lâu nhất của Người là bản Na Choc, tỉnh Nakhon Phanom (hiện nay di tích này đã được hai nhà nước phát triển thành Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thái Lan).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giảng Dạy Về Việt Nam Tại Nakhon Phanom, Thái Lan (1946-2013)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình giảng dạy và truyền bá văn hóa Việt Nam tại Nakhon Phanom trong suốt hơn nửa thế kỷ. Từ những năm 1946, tài liệu này nêu bật những nỗ lực của các giáo viên và tổ chức trong việc duy trì và phát triển ngôn ngữ cũng như văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xã hội Thái Lan. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các phương pháp giảng dạy, sự tương tác văn hóa và những thách thức mà cộng đồng Việt Nam tại đây đã phải đối mặt.

Để mở rộng kiến thức về mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh quan hệ việt nam thái lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do 2006 2015. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh chính trị và xã hội trong mối quan hệ giữa hai quốc gia, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của bạn về chủ đề này.