Chương 1. Cơ sở lý luận về bỏ học Chương 2. Thực trạng bỏ học của HS - SV tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa. Các giải pháp khắc phục tình trạng bỏ học của HS – SV.
10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỎ HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu trong nƣớc Thực trạng bỏ học của học sinh – sinh viên nói chung và học sinh – sinh viên đi học nghề nói riêng, thực chất đã diễn ra trong một thời gian khá dài nhưng hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề này chỉ được nhắc đến và đưa ra bàn luận trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngoài trọng tâm đào tạo con người với đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước và các tổ chức ban ngành quan tâm. Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa nhiều và chưa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất, khái quát nhất thực trạng vấn đề.
Có chăng chỉ là những trang tin đăng tải trên các tờ báo (báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Sài Gòn giải phóng….), trên internet hoặc một số tin ngắn, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh các sự kiện liên quan hay một số bài trích ngắn của các tác giả quan tâm đến vấn đề này. Qua nắm bắt tình hình HS bỏ học, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là: Phụ huynh thiếu quan tâm, động viên, hỗ trợ việc học tập của các em, có tâm lý phó mặc, ỷ lại vào nhà trường, chưa có sự hợp tác nhiệt tình với nhà trường trong việc quản lý học tập của con em mình. Một số HS không có ý thức, mục đích học tập, kết quả học tập quá kém không theo được lớp, phải lưu ban dẫn đến chán nản rồi bỏ học. Nhiều trường chưa sâu sát, chưa đánh giá đúng chất lượng giáo dục, vẫn còn tình trạng chạy theo thành tích để có tỉ lệ lên lớp cao; tình trạng “ngồi nhầm lớp” vẫn chưa được khắc phục triệt để… Chính những điều này đã làm cho các em vốn mất căn bản, nay càng mất căn bản thêm và thiếu ý thức phấn đấu vươn lên, do đó chán học, bỏ học… Mặt khác, tâm lý “chuộng bằng cấp” đã thúc đẩy các học sinh tốt nghiệp Trung học 11 phổ thông lựa chọn định hướng hàn lâm nhiều hơn là định hướng giáo dục nghề nghiệp.
Theo số liệu điều tra năm 2010-2011 của Viện khoa học giáo dục Việt Nam, năm 2010- 2011, sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông, 47,2% học sinh ở thành phố Hồ chí Minh vào học các trường Cao đẳng và Đại học; 9,4% vào học Trung cấp chuyên nghiệp; 6,8% học sinh học Trung cấp nghề và đào tạo nghề ngắn hạn, 36,6% bước vào thị trường lao động không qua đào tạo (Viện khoa học giáo dục Việt Nam, 2013). Theo số liệu thống kê của bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam, sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở, 80,4% học sinh vào Trung học phổ thông, trong khi chỉ có 16,1% học sinh vào các trường nghề (Phạm Văn Sơn, 2013). Tuyển sinh khó, duy trì sĩ số lớp học càng khó hơn - Đó là thực tế mà các cơ sở dạy nghề đang cố gắng tìm cách khắc phục. Hệ quả của sự bất hợp lý trong phân luồng vào học nghề ở bậc Trung học cơ sở và trung học phổ thông là sự bất hợp lý trong cơ cấu nguồn nhân lực, thiếu công nhân kỹ thuật và thừa nhân lực có trình độ đại học.
Về cơ bản, thị trường lao động Việt Nam thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và chất lượng cung lao động thấp. Nguồn nhân lực này có ít cơ hội chuyển dịch sang các lĩnh vực việc làm khác nếu như họ không được trang bị các chuyên môn kỹ thuật. Thực tế cho thấy, phần lớn những người không có công ăn việc làm là những người chưa qua đào tạo, số này chiếm 70% người thất nghiệp. Ngoài ra còn có sự chênh lệch rất lớn về mức thu nhập theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Theo số liệu điều tra về Lao động- Việc làm năm 2012 của Tổng cục thống kê, thu nhập bình quân của người lao động không có chuyên môn kỹ thuật là 3.000 đồng/tháng trong khi mức thu nhập bình quân của người lao động đã qua đào tạo là 4.000 đồng/tháng (Tổng cục dạy nghề, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, 2012).2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu trên thế giới Một số nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu ảnh hưởng từ phong cách của thầy cô giáo và cha mẹ đến động cơ học tập và ý định bỏ học của học sinh [32], [26], [24]. Kiểu giáo viên kiểm soát là những người thường xuyên đưa ra các hướng dẫn hoặc mệnh lệnh cứng nhắc, giám sát và điều hành sát sao, không cho học sinh cơ 12 hội được lựa chọn và bày tỏ quan điểm của mình. Ngược lại, kiểu giáo viên ủng hộ sự tự chủ là những người tạo nhiều cơ hội cho học sinh được lựa chọn, lắng nghe họ và tìm hiểu quan điểm của họ. Trong bối cảnh gia đình, sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ liên quan đến mức độ đồng cảm, khả năng nhìn nhận mọi việc từ quan điểm của con, trao cho con các cơ hội lựa chọn, khuyến khích chúng khám phá thế giới và hành động theo những sở thích của chính mình.
Những cha mẹ và thầy cô giáo được đánh giá là ủng hộ tính tự chủ sẽ kích thích được động cơ tự quyết và hạn chế được tình trạng không động cơ trong học sinh. Ngược lại, những cha mẹ và thầy cô giáo có phong cách kiểm soát làm hạn chế động cơ tự chủ và làm tăng trạng thái không động cơ trong học sinh, hệ quả là những học sinh này có ý định bỏ học cao hơn. Tuy vậy, những nghiên cứu tìm hiểu về cách thức quản lý của nhà trường tới động cơ học tập và ý định bỏ học của học sinh lại rất ít. Theo sự hiểu biết của chúng tôi chỉ có 2 nghiên cứu xem xét ảnh hưởng từ cách thức quản lý của nhà trường tới động cơ học tập [29], [32] và duy nhất một nghiên cứu phân tích ảnh hưởng từ cách thức quản lý của nhà trường tới động cơ học tập và ý định bỏ học của học sinh [32].
Thực trạng đó cho thấy sự cần thiết cần có thêm những nghiên cứu về tác động từ cách thức quản lý của nhà trường nhằm hiểu rõ hơn nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học. Trước những hậu quả không nhỏ của việc bỏ học, nhiều nhà chính trị, nhà nghiên cứu về giáo dục đã quan tâm đến hiện tượng này. Những nghiên cứu về bỏ học có thể chia ra làm 4 nhóm yếu tố tác động, đó là: - Những yếu tố liên quan đến học sinh như kết quả học tập, động cơ và các vấn đề về hành vi (Rumberger, 2004; Bean, 1985; Rumberger 1995, 2004; Hickman et al., 2008) - Những yếu tố liên quan đến gia đình như hoàn cảnh kinh tế-xã hội, sự hỗ trợ hoặc quan tâm từ phía cha mẹ, bầu không khí cảm xúc trong mối quan hệ cha mẹ và con (Dalton & cs. 2009; Cooper et al.
- Những yếu tố liên quan đến nhà trường như số học sinh, bầu không khí xã 13 hội và học tập, tương tác giữa học sinh và khoa/trường (Pittman, 1993; Pittman & Haughwout , 1987; Pittman & Haughwout, 1987). - Những yếu tố liên quan đến cộng đồng như đặc điểm của láng giềng, Thành tích học tập cao và nguồn cảm hướng từ bạn bè trong cùng môi trường (Rumberger, 2004; Cooper & cs. Duy nhất chỉ có một nghiên cứu được thực hiện bởi Vallerand đã nghiên cứu ảnh hưởng không chỉ từ sự hỗ trợ tính tự chủ từ thầy/cô và cha mẹ mà còn từ sự quản lý của nhà trường đến động cơ tự quyết của học sinh. Những tác giả này đã tìm thấy hiệu ứng gián tiếp của 3 biến độc lập này lên động cơ tự quyết: hành vi của thầy/cô giáo, cha mẹ và quản lý từ nhà trường càng ít hỗ trợ tính tự chủ thì học sinh càng cảm thấy thiếu năng lực và kém tự chủ.
Những học sinh càng cảm thấy năng lực và sự tự chủ của mình thấp thì động cơ tự quyết đối với hoạt động học tập của họ càng thấp. Trong một nghiên cứu trước đó, Senecal, Vallerand & Pelletier đã nghiên cứu ảnh hưởng của 2 chương trình đào tạo đại học (một chương trình nặng về quản lý hành chính và một chương trình chú ý đến tâm lý sinh viên) tới động cơ học tập của họ. Chương trình đào tạo nặng về quản lý hành chính được nhìn nhận là kiểm soát nhiều hơn và hỗ trợ sự tự chủ của sinh viên ít hơn. kết quả cho thấy sinh viên theo học chương trình đào tạo nặng về quản lý hành chính tỏ ra có động cơ bên trong thấp hơn và động cơ bên ngoài cao hơn những sinh viên theo học chương trình đào tạo chú ý đến tâm lý của người học[10].
Theo lý thuyết về sự tự quyết, bối cảnh xã hội không nhất thiết có tác động trực tiếp tới động cơ tự chủ và những ảnh hưởng này biến đổi rất nhiều phụ thuộc vào mức độ nhận thức của học sinh/sinh viên về năng lực và sự tự chủ của họ. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong một số kiểu nhà trường và mô hình đào tạo, học sinh có động cơ tự quyết ít bỏ học hơn và mong muốn theo đuổi việc học tập nhiều hơn so với những học sinh có động cơ bị kiểm soát và không động cơ. Vallerand & Bissonnette đã tìm hiểu vấn đề bỏ học từ quan điểm động cơ bên trong và động cơ bên ngoài và xem chúng như những biến độc lập dự báo hiện tượng bỏ học một khóa học bắt buộc ở trình độ cao đẳng. Hơn 1000 sinh viên năm thứ nhất điền một bảng hỏi đánh giá động cơ học tập ngay từ đầu khóa học.
Đến khóa học 14 sau, tên tuổi của những sinh viên bỏ học được xác định. Điểm số thu được từ bảng hỏi mà họ đã tích trong học kỳ trước được đem so sánh với điểm số của những sinh viên vẫn đang theo học. Kết quả cho thấy những sinh viên bỏ khóa học bắt buộc đó ngay từ đầu đã có điểm số về động cơ bên trong và điều chỉnh đồng nhất thấp trong khi điểm số về không động cơ lại cao hơn so với những sinh viên hoàn thành khóa học.