Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu - trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm nghiên cứu. Chương 3: Phân tích kết quả khảo sát theo bộ tiêu chí ROCCIPI Chương 4: Kết luận và Khuyến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Hoạt động GS của HĐND 2.1 Khái niệm Theo Frankel, N và Gage, A.01), giám sát là “thu thập dữ liệu định kỳ để đo lường tiến độ thực hiện chương trình nhằm đạt được mục tiêu của chương trình” và mục đích của các hoạt động GS là “cho phép các bên liên quan đưa ra quyết định tùy thuộc vào tính hiệu quả của chương trình và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực”. Theo đó Giám sát được cho là một yêu cầu cơ bản và then chốt bởi giám sát sẽ giúp đo lường các hoạt động của chương trình để từ đó đánh giá hiệu quả của một chương trình hay một chính sách được ban hành.
Theo Worldbank, “giám sát có thể định nghĩa là một chức năng được thực hiện một cách liên tục nhằm cung cấp cho cấp quản lý và các bên liên quan các dấu hiệu về tác động thành công hoặc không thành công ban đầu của các hoạt động, dự án, chương trình đang triển khai. Quá trình giám sát giúp các tổ chức theo dõi những thành quả thông qua việc thường xuyên thu thập thông tin để kịp thời hỗ trợ việc ra quyết định, đảm bảo việc giải trình trách nhiệm và tạo nền tảng cho việc đánh giá và bài học kinh nghiệm”.9 Ngoài ra, Worldbank cho rằng các lĩnh vực giám sát cụ thể sẽ phụ thuộc vào các hoạt động hoặc chương trình thực tế cũng như những kết quả sự kiến, với những câu hỏi mang tính chiến lược bao gồm : “* Sự phù hợp: các mục tiêu và mục đích có phù hợp với những vấn đề và nhu cầu đang được giải quyết không? * Hiệu suất: dự án có được triển khai một cách kịp thời và tiết kiệm chi phí không? * Hiệu quả: Dự án/các hoạt động can thiệp đạt được các mục tiêu ở mức độ nào? Những yếu tố thuận lợi và khó khăn gặp phải trong quá trình triển khai là gì? * Tác động: dự án mang lại những kết quả gì? Kết quả của một dự án có thể ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, theo dự kiến và ngoài dự kiến.com TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 * Tính bền vững: lợi ích mà dự án mang lại có thể tồn tại lâu dài sau khi dự án/ hoạt động can thiệp đó kết thúc không?” (Nguồn : http:\\worldbank.com) GS cũng có thể được thực hiện ở cấp khác nhau. Bảng dưới đây đưa ra các khái niệm về các thuật ngữ chung kèm theo ví dụ về hoạt động GS giải quyết khiếu nại, tố cáo: ĐẦU VÀO Nguồn lực kinh phí, đội ngũ cán bộ và trang thiết bị phục vụ trong các hoạt động phát triển Chuyên môn kỹ thuật Thiết bị Nguồn tài chính CÁC HOẠT ĐỘNG Những hành động hoặc công việc được triển khai Các buổi tiếp xúc các thành phần được tổ chức Các hội thảo, hội nghị được tổ chức ĐẦU RA Các kết quả sản phẩm, dịch vụ do hoạt động mang lại Số vụ việc được giải quyết Số các buổi hội thảo, hội nghị được tổ chức KẾT QUẢ Các ảnh hưởng hoặc thay đổi ngắn hạn hoặc trung hạn đạt được từ các đầu ra của hoạt động Các kỹ năng giải quyết khiếu nại, tố cáo được cải thiện Giải quyết các vấn đề dân sự TÁC ĐỘNG Những hệ quả lâu dài của hoạt động, có thể là những tác động mang tính tích cực hoặc tiêu cực Sự ủng hộ của người dân Cải thiện đời sống người dân (Nguồn : tác giả tự vẽ) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 : Lập kế hoạch giám sát “Các bước thiết kế hệ thống giám sát rất quan trọng và nó phụ thuộc vào việc tổ chức muốn giám sát và đánh giá cái gì. Dưới đây là một số bước khái quát bạn có thể xem xét sau trong quá trình lập kế hoạch cho các hoạt động: 1.
Xác định xem ai sẽ tham gia vào thiết kế, triển khai và báo cáo. Sự tham gia của các bên có liên quan giúp hiểu được các suy nghĩ và mong muốn của họ và đảm bảo rằng những ý kiến phản hồi của họ sẽ được lồng vào trong thiết kế dự án. Làm rõ phạm vi, mục đích, ý định sử dụng, đối tượng, và ngân sách sẽ được dùng cho đánh giá và giám sát. Xây dựng câu hỏi để xem bạn muốn biết những gì.
Chỉ số được dùng như một công cụ để đo lường thành quả một cách rõ ràng, giúp đánh giá các kết quả thực hiện, hoặc để phản ánh những thay đổi. Các chỉ số có thể mang tính định lượng và/hoặc định tính. Chỉ số tiến trình là các thông tin về quá trình triển khai một chương trình. Xác định phương pháp thu thập thông tin.
Một số ví dụ về các phương pháp: đọc tài liệu, bộ câu hỏi, điều tra, và phỏng vấn. Phân tích và tổng hợp thông tin thu thập được. Dùng những thông tin thu thập được để xem xét các xu hướng mới nảy sinh trong quá trình triển khai dự án (nếu có) 7. Hiểu rõ những phát hiện trong quá trình theo dõi và giám sát, đưa ra phản hồi và các khuyến nghị.
Quá trình phân tích số liệu và nghiên cứu các phát hiện trong quá trình theo dõi và giám sát sẽ giúp bạn đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả công việc cũng như những điều chỉnh trung hạn cần tiến hành. Chia sẻ các phát hiện và nhận xét của bạn với các bên có liên quan và quyết định xem sử dụng các kết quả của quá trình theo dõi và giám sát như thế nào để củng cố các nỗ lực của tổ chức của bạn” (Nguồn: http:\\worldbank.com) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Trong thời gian qua, có rất nhiều khái niệm về giám sát nhưng cách hiểu chung nhất, hoạt động GS là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”10. Bên cạnh đó, có quan niệm GS mang tính quyền lực là “sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh”11. Do đó, có thể hiểu về cơ bản, GS là một chức năng đã được PL quy định cụ thể trong các văn bản QPPL, nó gắn liền với những quyền hạn, nghĩa vụ và nó cũng là trách nhiệm của tổ chức HĐND.
GS của HĐND được thể hiện tại Điều 2 của Luật hoạt động GS của Quốc hội và HĐND 2015. Theo đó, “giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo HP và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Như vậy, so với cách giải thích và ý nghĩa của từ “giám sát” được biểu hiện có khác biệt nhưng nhìn chung các khái niệm đều hướng tới một nội dung đó là: GS của HĐND là việc HĐND theo dõi, xem xét nhằm đánh giá hoạt động của các chủ thể chịu sự GS trong việc thực thi, chấp hành theo HP và các quy định của PL về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Phân biệt giữa “giám sát” với “Thanh tra”, “kiểm tra” : Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2004 thì “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.
Kiểm tra là chức năng của mọi chủ thể quản lý, không phân biệt ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói riêng. Tuy nhiên là ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô kiểm tra cũng khác nhau và có những yêu cầu khác nhau. Kiểm tra gắn liền với 10 Đại từ điển Tiếng Việt, 1999, NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội, tr.728; 11 Đặng Đình Tân (2006), Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr14-15; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 công việc của một tổ chức nhất định, kiểm tra hướng tới việc xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của một chương trình công tác đã vạch ra, khả năng thực hiện trong thực tế”. Theo thuật ngữ pháp lý phổ thông của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật năm 1986, định nghĩa “Thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra.
Nhiệm vụ thanh tra được ủy quyền cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm. Thanh tra gắn liền với chức năng quản lý nhà nước. Để làm được nhiệm vụ, Thanh tra có thể dựa vào bộ máy chuyên môn của mình và quần chúng. Cơ quan Thanh tra có trách nhiệm xem xét các đơn thư khiếu nại, tố cáo để tìm kiếm những biện pháp giải quyết thỏa đáng theo quy định.
Ngoài thanh tra nhà nước còn có Thanh tra chuyên ngành như thanh tra giao thông, tư pháp, tài nguyên khoáng sản, đất đai.” Như vậy, về cơ bản “thanh tra”, “kiểm tra”, “giám sát” có nội hàm tương đương nhau, đó là xem xét và đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện quyền lực nhà nước để HP, PL được thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ nhưng chúng khác nhau về chủ thể thực hiện. So với “thanh tra”, “kiểm tra”, thì “giám sát” có cường độ tác động vào hoạt động của đối tượng bị GS chỉ mang tính theo dõi, còn “thanh tra”, “kiểm tra” thì cụ thể, tỷ mỉ chi tiết hơn. “Kiểm tra”, “Thanh tra” là cơ sở để thực hiện GS, đồng thời là biện pháp để GS đối tượng bị GS thực thi nhiệm vụ, hoạt động tốt hơn, chính xác hơn. Trong quá trình “giám sát” có thể tiến hành các hoạt động “Thanh tra”, “Kiểm tra” để đối chiếu về những nhận định, nhận xét và từ đó đưa ra các đánh giá.