CHƯƠNG 1 TRƯNG CẦU GIÁM ĐỊNH THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trưng cầu giám định 1. Thời điểm trưng cầu giám định Về thời điểm trưng cầu giám định: có thể thực hiện ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố (khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015). Quy định thời điểm trưng cầu giám định chưa được BLTTHS năm 2003 quy định ở một điều luật cụ thể riêng biệt.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012 thì: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này”. Do đó, căn cứ theo quy định này có thể xác định thời điểm trưng cầu giám định là từ giai đoạn điều tra VAHS. Khi BLTTHS 2015 được ban hành đã có những quy định mới về hoạt động giám định như tách phần giám định định giá tài sản ra thành một chương riêng (Chương XV), mở rộng thời điểm trưng cầu giám định sớm hơn khi cho phép cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền trưng cầu giám định. Tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015 quy định: “Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động: a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; b) Khám nghiệm hiện trường; c) Khám nghiệm tử thi; d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản”1.
Ví dụ: trưng cầu giám định trong giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc trong vụ án “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” xảy ra tại khách sạn Đồng Xanh thuộc tổ 05, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang phát hiện ngày 12/02/2018”2. Luật giám định tư pháp 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 cũng có quy định mới về sửa đổi thời điểm trưng cầu giám định, cho phép việc trưng cầu giám định 1 Khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015. 2 Thông báo số: 352, ngày 20/6/2018 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang thông báo kết luận giám định đối với bà Phùng Thị Kim Ngân trong tố giác về tội phạm “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” xảy ra tại khách sạn Đồng Xanh thuộc tổ 5, khóm Hòa Bình, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang vào khoảng tháng 10 năm 2017. 6 được thực hiện từ giai đoạn khởi tố VAHS.
Theo đó, khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,…”. Kết luận trong trưng cầu giám định mang tính khoa học, là một trong những nguồn chứng cứ được thu thập theo thủ tục tố tụng, làm căn cứ cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định khi giải quyết vụ án. Thẩm quyền trưng cầu giám định Trưng cầu giám định có thể được tiến hành trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào của qua trình giải quyết vụ án. Do nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THTT trong mỗi giai đoạn tố tụng không giống nhau nên thẩm quyền trưng cầu giám định của từng cơ quan THTT cũng khác nhau.
Theo BLTTHS 2015, thẩm quyền trưng cầu giám định thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án được quy định tại các Điều 36, 41,45, 205. Về nguyên tắc, cả ba cơ quan trên đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp trưng cầu giám định để thu thập chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, tại Điều 39, 40 của BLTTHS 2015 cũng bổ sung thêm thẩm quyền trưng cầu giám định của các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: Các cơ quan của Bộ đội Biên phòng; Các cơ quan của Hải quan; Các cơ quan của Kiểm lâm; Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; Các cơ quan của Kiểm ngư; Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
Để xác định cụ thể thẩm quyền trong từng giai đoạn không chỉ căn cứ vào quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn mà còn căn cứ vào từng chức danh tố tụng quy định trong phần “Những quy định chung” của BLTTHS. “Người yêu cầu giám định” là khái niệm mới được Luật giám định tư pháp 2012 thể chế hóa, theo đó: “Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc 7 dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” (Khoản 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp 2012). Người có quyền trưng cầu giám định Trưng cầu giám định là một trong những hoạt động tố tụng quan trọng do các cơ quan THTT thực hiện nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc xác định sự thật khách quan của VAHS.
Khoản 1 Điều 205 BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206 của Bộ luật này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định”. Tại khoản 2 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, căn cứ theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật giám định tư pháp 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì thẩm quyền trưng cầu giám định thuộc về cơ quan có thẩm quyền THTT và người có thẩm quyền THTT. Cụ thể như sau: Thứ nhất, trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS: thẩm quyền trưng cầu giám định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
Điều này được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 2015: “Khi tiến hành tố tụng hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn: Quyết định trưng cầu giám định.” và khoản 3 Điều 36 BLTTHS năm 2015: “Khi được phân công tiến hành việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Ngoài ra, để khắc phục những điểm hạn chế của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng thẩm quyền trưng cầu giám định đối với cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao một số nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra trong các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 39 BLTTHS năm 2015. Ví dụ: Vụ án: Leang Davy (Phan Thị Lan) “Vận chuyển trái phép chất ma túy” của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang3; Trưng cầu giám định theo Quyết định 3 Quyết định trưng cầu giám định số: 06/QĐ-ĐCKLB, ngày 06/9/2020 của Đồn trưởng Đồn biên phòng Cửa khẩu Long Bình, Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang; Kết luận giám định số: 225/KLGT-PC09(MT), ngày 07/9/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh An Giang; Bản án số: 03/2021/HS-ST, ngày 12-3-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. 8 của Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Long Bình, Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang.
Vụ án: Lê Hoàng Anh (Béo) “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; Trưng cầu giám định theo Quyết định của Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau4. Thứ hai, trong giai đoạn truy tố VAHS: thẩm quyền trưng cầu giám định của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát căn cứ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 41 BLTTHS năm 2015: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn: Quyết định trưng cầu giám định” và khoản 3 Điều 41 BLTTHS năm 2015: “Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này”. Thứ ba, trong giai đoạn xét xử: thẩm quyền trưng cầu giám định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa được quy định tại khoản 2 Điều 45 BLTTHS năm 2015: “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này và nhiệm vụ, quyền hạn: Quyết định trưng cầu giám định”. Việc quy định Thẩm phán có quyền trưng cầu giám định là quy định mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Điều 39 BLTTHS năm 2003.