Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TẾ VÀ CÁC TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN THỂ LOẠI 1. Giai thoại và các tiêu chí nhận diện thể loại 1. Khái niệm giai thoại Giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, đẹp, thoại là câu chuyện kể. Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp.Tamarchenko, “giai thoại (“Anekdotos”, gốc Hy Lạp, có nghĩa là “không công bố”) có hai nét nghĩa: Nét nghĩa thứ nhất: Câu chuyện lưu truyền rộng rãi trong dân gian, thuật lại một cách ngôn lí thú, một cảnh độc đáo, hay một trang tiểu sử riêng tư của một nhân vật lịch sử.
Nét nghĩa thứ hai: Thể tự sự cỡ nhỏ nửa truyền miệng, bán văn học, đặc điểm nổi bật của nó là mô tả các nhân vật hành động một cách hàm súc, sơ lược, tập trung vào một tình huống được suy ngẫm lại, đánh giá lại bằng cách thay đổi hoàn toàn điểm nhìn (“point”, bước ngoặt, đột biến). Ở cả phía đối tượng của sự kể (đời sống riêng tư của nhân vật lịch sử, tức là nhân vật quan phương, hoặc một trường hợp nào đó rút ra từ đời sống của những người bình thường), lẫn ở phía chức năng, tức là ở cả hai ý nghĩa của thuật ngữ, giai thoại là thể loại không chính thức: vì thế, truyện kể bao giờ cũng mang tính phi văn học, nó là thứ “văn học rỉ tai, bí mật” (E. Kurganov), đòi hỏi người kể và người nghe phải có nhãn quan tương đồng (J. Hein) và sự “tâm đầu ý hợp”, tin tưởng lẫn nhau trong giao tiếp” [30].
Theo nghĩa thứ nhất, thuật ngữ có gốc gác từ cuốn Mật sử của Procopius Caesarensis (một tác phẩm còn đang có nhiều tranh cãi, được viết vào những năm 550) và xưa kia, Từ điển tiếng Anh (1775) của Samuel Johnson từng giải thích với ý nghĩa như vậy: “Giai thoại là câu chuyện chưa được công bố”, có nghĩa, đó là chuyện riêng tư của nhân vật quan phương. Thời Pushkin, giai thoại cũng được hiểu như vậy. Những câu chuyện về kì sự, vô thường của các nhân vật nổi tiếng do chứng nhân kể lại theo kiểu như thế đầy ắp các Hồi kí giai đoạn thế kỉ XVIII – XX. Hiển nhiên là giai thoại có quan hệ đặc biệt với văn học, một mặt, từ hoạt động truyền miệng của nó, cũng như từ giác độ bản quyền mang tính tập thể.
Mặt khác, nhiều tuyển tập giai thoại hết sức nổi tiếng (ở Nga, từ thế kỉ XVIII) và được sử 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng trong các văn bản văn học rộng rãi tới mức khiến chúng không còn là thể loại dân gian thuần tuý. Việc giai thoại thiên về lối kết cấu xâu chuỗi - hoặc là xoay quanh các nhân vật nào đó, hoặc là những đặc điểm dân tộc nổi bật của các nhân vật hành động - nói lên tính tự sự của nó. Trong quá trình phát triển lịch sử, theo ý kiến chung, giai thoại có quan hệ mật thiết với truyện khôi hài, cổ tích sinh hoạt có nội dung trào lộng, ngụ ngôn, trào phúng và truyện cổ có kết cấu theo kiểu tăng cấp. Truyện kể tăng cấp (thường dưới dạng giản lược) và điểm “point” kết thúc đã biến giai thoại thành nguồn cội của tiểu thuyết - ở cả thời Phục hưng, lẫn sau này, trong sáng tác của A.
Năm 1988, nhà xuất bản Văn học đã giới thuyết khái niệm giai thoại văn học khi tái bản cuốn Giai thoại văn học nói trên. Sách viết: “Giai thoại văn học là những giai thoại riêng về các nhà văn, những nhân vật có tên tuổi trong xã hội hoặc đông đảo những người yêu thích thơ văn và sáng tác thơ văn nói chung. Như vậy giai thoại văn học là một loại văn chương vừa có tính chất bác học lại vừa có tính chất truyền miệng mang trong cổt cách của nó nhiều nét dân tộc độc đáo đầy sức hấp dẫn” [24, tr. Theo chúng tôi, giới thuyết này chỉ nhấn mạnh khái niệm giai thoại văn học và vị trí của nó trong văn học dân tộc như cầu nối giữa văn học dân gian - văn học mà hơi nhòe tính chất thể loại, cũng không xác định nó là văn học dân gian hay văn học bác học.
Năm 1994, Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng giai thoại Việt Nam lại thiên về nhận định giai thoại thuộc văn học dân gian khi ông cho rằng: “… Những câu thơ, câu đối ở đây có vẻ giàu chữ nghĩa, điển tích như ở văn chương bác học, song điều bắt buộc là phải vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả biện pháp quen thuộc của ca dao, câu đố…tác phẩm văn học bác học được xem như tác phẩm dân gian và có thể sống trong quần chúng…” [18, tr. Như vậy, Vũ Ngọc Khánh coi giai thoại văn học như các tác phẩm văn học dân gian nhưng không phủ nhận rằng nó có nguồn gốc bác học và đã được dân gian hóa. Trong cuốn Từ điển Văn học do nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2004, giai thoại được định nghĩa như sau: “Một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truyền chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng ưa thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán. Thuật ngữ giai thoại được mượn từ Trung Hoa.
Mỗi giai thoại là một truyện kể ngắn gọn, lý thú, xoay quanh những nhân vật có thực, thường là những danh nhân… Giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ; có những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm. Tuy vậy giai thoại vẫn mang tính độc lập như một thể loại độc đáo; nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là dạng thức tồn tại của các truyện kể dân gian” [49, tr. Định nghĩa giai thoại trên có phần mâu thuẫn. Một mặt nó đã khẳng định “Giai thoại là một thể loại chuyện kể truyền miệng” (tức nó thuộc văn học dân gian), nhưng lại nêu thêm “Nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn”.
Như vậy, tác giả muốn coi giai thoại là một thể loại văn chương, điều mà Trần Thanh Mại đã có lần đề cập. Tuy nhiên, bản thân tác giả mục từ này cũng chưa nhận thức rõ giai thoại thuộc văn học dân gian hay văn học thành văn, khi thì tác giả coi nó là “một thể loại của truyện kể truyền miệng” khi lại nhấn mạnh “Nó thuộc văn chương bác học”. Trong cuốn sách Văn học dân gian người Việt, góc nhìn thể loại ở bài Thể loại giai thoại, Kiều Thu Hoạch cũng định nghĩa: “Giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, đẹp, thoại là câu chuyện kể. Như vậy giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp… Tuy nhiên, giai thoại không phải là câu chuyện, mẩu chuyện kể bình thường, mà đó phải là những câu chuyện hay, lý thú, gợi được những khoái cảm thẩm mĩ” [16, tr.
Định nghĩa này của ông không khác các nhà nghiên cứu trước đây, song ông đã đưa ra nhiều phân tích, nhận xét có giá trị về giai thoại. Theo Kiều Thu Hoạch thì những tài liệu sách báo có sưu tầm và giới thiệu giai thoại khá nhiều và rải rác khoảng từ những năm 30 đến 45 của thế kỉ trước, nhưng phải đến năm 1965 mới có một cuốn sách sưu tầm giai thoại chính thức ra đời là cuốn Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch. Từ những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu, câu hỏi đặt ra là giai thoại có phải là một thể loại văn học dân gian hay không? 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn học dân gian là những sáng tác folklore và đặc trưng của các sáng tác dân gian là: - Tính truyền miệng - Tính tập thể - Tính nguyên hợp và đa chức năng - Tính dị bản. Xem xét lần lượt các đặc trưng này, chúng tôi nhận thấy giai thoại hoàn toàn thỏa mãn.
Giai thoại là các sáng tác truyền miệng, truyền miệng cả về sáng tác và lưu truyền. Nói đến tính truyền miệng và tính tập thể của văn học dân gian, chúng tôi nhận thấy vấn đề chính của hai đặc trưng này là vấn đề người sáng tác. Có người sáng tác thì tác phẩm dân gian mới ra đời, mới được truyền miệng và thỏa mãn các đặc trưng khác. Trong giai thoại thường xuất hiện những câu đối, những bài thơ văn bác học của các học giả, tác gia nổi tiếng.
Nếu vin vào cớ giai thoại là những sáng tác của người có chữ nghĩa mà cho rằng nó thuộc văn chương bác học thì chưa hẳn là hoàn toàn chính xác. Trong văn học dân gian Việt Nam, ca dao, tục ngữ chính là những câu có xen những từ Hán, điển cố Hán, thậm chí có những câu toàn chữ Hán. Những câu như thế không thể xem là do người nông dân hoàn toàn không biết chữ Hán sáng tác. Đó hẳn là những sáng tác của những anh đồ quê, những nho sĩ thủa hàn vi hoặc những lúc rảnh việc công.
Đó là một thực tế lịch sử - nét đặc thù của văn hóa, văn học dân gian truyền thống Việt Nam. Còn về mặt lý luận, dường như giới nghiên cứu folklore hiện nay trên thế giới cũng không đồng tình với quan điểm một thời cho rằng sáng tác folklore chỉ là của người lao động, của người mù chữ. Trần Quốc Vượng cũng đã từng dẫn một câu nói của một nhà nghiên cứu folklore người Pháp: “Cái gì không phải là chính thống thì là dân gian”. Đúng như vậy, khi Nguyễn Trãi sáng tác một cách nghiêm túc những bài thơ chữ Hán, thơ Quốc âm bằng chữ Nôm thì đó là những tác phẩm chính thống, là văn chương bác học.
Nhưng khi ông sáng tác đùa chơi, hoặc người kể chuyện gán cho ông sáng tác đùa chơi bài “Hỏi cô bán chiếu” thì đó lại là sáng tác phi chính thống, nó không nghiêm túc, nó chính là dân gian. Cũng vậy, khi Phan Bội Châu viết bài “Hải ngoại huyết 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thư” thì đó là sáng tác bác học. Nhưng lúc ông còn là chàng trai trẻ ở quê nhà, đi hát ví phường vải, hát đáp lại bên gái câu hát: “Các em là phận nữ nhi Một Đan Chu cũng đủ, hỏi mần chi những tám người?” [16, tr. thì đó là câu hát đùa nghịch, không phải là sáng tác chính thống, quan phương, đó chính là tác phẩm văn học dân gian.