CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG 1. Khái niệm giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng 1. Khái niệm vụ việc dân sự Vụ việc dân sự được đề cập trong BLTTDS và BLDS được hiểu theo nghĩa rộng, tức bao gồm cả những vụ việc thuộc lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Vụ việc dân sự xuất hiện trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu để gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý theo quy định của Luật tố tụng dân sự.
Nội dung của khái niệm vụ việc dân sự bao gồm hai vấn đề: vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Khái niệm vụ việc dân sự chưa có chưa có điều luật để áp dụng Tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 đã đưa ra khái niệm “Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng”.
Vậy tức là để xác định một vụ việc có được xem là “vụ việc dân sự chưa có điều 7 luật áp dụng” hay không phải đáp ứng đủ hai điều kiện sau: Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh, không phải mọi khởi kiện, yêu cầu nào Tòa án cũng thụ lý giải quyết, BLDS 2015 và BLTTDS 2015 này đã giới hạn vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng mà Tòa án thụ lý giải quyết là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự. Hiểu một cách ngắn gọn thì pháp luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và quan hệ nhân thân trên nguyên tắc các bên bình đẳng về mặt lợi ích, quyền tự định đoạt của các bên và tự chịu trách nhiệm về tài sản. Tinh thần này được cụ thể hóa tại Điều 1 của BLDS 2015 như sau: “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Ở đặc điểm thứ nhất này, vụ việc dân sự phải phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan hệ nhân thân thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người về những lợi ích vật chất dưới dạng tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng hoặc dịch vụ tạo ra một tài sản nhất định. Do đó quan hệ tài sản luôn gắn với một tài sản được thể hiện dưới dạng này hoặc dạng khác, và tài sản trong luật dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ về tài sản. Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về những lợi ích không mang tính kinh tế, không tính được thành tiền và không di chuyển được (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) vì nó gắn liền với những cá nhân, tổ chức nhất định. Nó ghi nhận đặc tính riêng biệt và sự đánh giá của xã hội đối với cá nhân, tổ chức đó.
Các quan hệ nhân thân do luật dân sự điều chỉnh chia là hai nhóm: Quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản (là những quan hệ giữa người với người về những lợi ích tinh thần không liên quan đến tài sản như quan hệ về tên gọi, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân hoặc tổ chức nhất định,.) và quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản (những quan hệ nhân thân là cơ sở làm phát sinh quan hệ tài sản tiếp sau như quyền tác 8 giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật sẽ làm phát sinh quyền được hưởng tiền nhuận bút, thù lao; tác giả quyền sở hữu công nghiệp được hưởng tiền khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp,. Thứ hai, tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Ở đặc điểm này đặt ra vấn đề việc “chưa có điều luật áp dụng” phải được xem xét kể từ lúc vụ việc dân sự đó phát sinh cho đến khi Tòa án được yêu cầu giải quyết cũng vẫn chưa có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh. Việc xác định thời điểm bắt đầu được tính từ lúc vụ việc phát sinh là hoàn toàn hợp lý vì đó là thời điểm người khởi kiện, người yêu cầu cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của họ bị xâm phạm, cần được bảo vệ, cần một bên thứ ba nhân danh nhà nước để phân định đúng sai.
Khoảng thời gian tính là “chưa có điều luật áp dụng” được chốt tại mốc “khi Tòa án được yêu cầu giải quyết”, vậy phải hiểu đây là thời điểm người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn cho Tòa án, thời điểm Tòa án nhận đơn hay là thời điểm Tòa án chính thức thụ lý vụ việc dân sự? Vấn đề này vẫn chưa có văn bản hướng dẫn xác định cụ thể, tuy nhiên xét về câu chữ thì hiểu là tính đến thời điểm “Tòa án được yêu cầu giải quyết” thông qua việc nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Bên cạnh đó, tại Điều 44 BLTTDS 2015 có quy định về trình tự, thủ tục thụ lý vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng, có thể thấy rằng ngay trong giai đoạn xem xét đơn trước khi chính thức thụ lý yêu cầu thì Tòa án đã phải xác định vụ việc dân sự đó có điều luật áp dụng hay chưa, vì nó ảnh hưởng đến trình tự, thủ tục thụ lý vụ việc dân sự đó. Khái niệm về giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng “Giải quyết” theo Từ điển Tiếng Việt1 là động từ mang nghĩa “làm cho không còn thành vấn đề nữa”. Như vậy mục đích cuối cùng của “giải quyết” hướng tới là chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, hoặc phân định đúng - sai, phải - trái, đưa 1 Hoàng Phê (biên soạn, 2018), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr.
9 ra kết luận, phán quyết cho một sự việc, vấn đề nào đó. Để giải quyết được vấn đề một cách công bằng, công minh thì chủ thể có quyền đưa ra kết luận giải quyết phải là bên thứ ba không có quyền lợi hay nghĩa vụ liên quan đến vấn đề cần xem xét. Cơ sở của kết luận phải dựa trên việc cân nhắc, xác minh các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và phải căn cứ vào các nguyên tắc xác định, các nguồn được đại đa số thừa nhận để đưa ra kết luận. Từ đó tác giả đưa ra khái niệm “giải quyết vụ việc dân sự” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xác minh, kết luận và đưa ra quyết định xử lý đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Ngoài Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; thì các cơ quan tổ chức khác cũng có thẩm quyền giải quyết đối với một số tranh chấp dân sự như chính quyền địa phương, hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh, hòa giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện, tổ chức trọng tài thương mại,. tuy nhiên trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu về các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cụ thể là các vụ việc dân sự được quy định tại mục 1 Chương 3 BLTTDS 2015. Theo đó “Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng” có thể hiểu là việc Tòa án nhân dân có thẩm quyền căn cứ vào các nguyên tắc được xác định trong BLDS 2015 và BLTTDS 2015 hoặc các nguồn luật để xem xét, xác minh, kết luận và đưa ra quyết định xử lý về vụ việc dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Căn cứ của quy định về giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Ngày 24/9/1982 Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Convenant on Civil and Political Rights - có hiệu lực từ ngày 23/3/1976), là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các 10 quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân,. “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào”2. Nếu có vi phạm mà luật pháp chưa quy định thì phải quyết định, bảo đảm quyền của người dân. Quy định trên đã được các nhà làm luật Việt Nam nội luật hóa khi xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong nước trong suốt một thời gian dài từ khi gia nhập Công ước.