chương I của Bộ luật lao động của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007), người lao động (dân số trong độ tuổi làm việc) là người từ đủ 15 tuổi trở lên. - Lực lượng lao động hay số người hoạt động kinh tế hiện tại là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và thất nghiệp. Thất nghiệp ở đây được hiểu là những người chưa có việc làm, có khả năng làm việc, đang tìm việc hoặc sẵn sàng làm việc.1 Nguồn nhân lực của Việt Nam dồi dào, trẻ, có tốc độ tăng trưởng cao: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên cả nước hiện nay là 44,4 triệu người. Trong đó lực lượng lao động nhóm tuổi 15 – 34 chiếm 46,8% ,từ 35 - 54 tuổi chiếm 35,4% trên 55 tuổi chiếm 7,8%.
Như vậy lực lượng lao động trẻ (dưới 35 tuổi) ở Việt Nam chiếm khoảng 50% lực lượng lao động cho thấy tiềm năng về lao động của Việt Nam rất lớn, nếu chúng ta có định hướng đào tạo, sử dụng tốt thì đây là một lợi thế rất lớn mà hiện nay các quốc gia (đặc biệt là các nước phát triển) đang khan hiếm. Từ 1996 đến nay, lực lượng lao động của Việt Nam tăng liên tục với mức tăng trung bình 922,2 ngàn người/năm tức tỷ lệ 2,3 %/năm. Cơ cấu theo độ tuổi của lao động vận động theo xu hướng sau: nhóm từ 15 - 24 tuổi giảm xuống do sự gia tăng cơ hội học tập dành cho nhóm này; nhóm tuổi từ 25 – 54 tăng dần; nhóm tuổi trên 54 giảm dần.2 Lực lượng lao động Việt Nam đang chuyển dịch theo ngành và khu vực kinh tế theo hướng tích cực nhưng tốc độ chuyển dịch chậm. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực: Năm 2001, tỷ trọng của lao động thuộc nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp trong tổng số lao động có việc làm chiếm 62,7%; công nghiệp - xây dựng: 14,5%; thương mại - dịch vụ: 22,8%; đến nay tỷ lệ này là: nông lâm ngư nghiệp: 55,7%; công nghiệp - xây dựng: 19,1%; thương mại - dịch vụ: 25,2%.
Tỷ lệ lao động có việc làm ở khu vực nông thôn tuy có giảm nhưng vẫn chiếm hơn 3/4 tổng số lao động có việc làm của nền kinh tế. Năm 1996 tỷ lệ này là 80,79%, hiện nay là 75,63%. Tương ứng tỷ lệ lao động khu vực thành thị tăng song vẫn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (dưới 1/4). Chỉ số tương ứng của khu vực thành thị là 19,25% và 24,75%.
Lao động có việc làm khu vực thành thị có tốc độ tăng cao hơn khu vực nông thôn. Cụ thể tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1996 - 2005 của lao động có việc làm khu vực thành thị là 5,0%, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng lao động có việc làm ở khu vực nông thôn (1,6%) Phân bổ lao động cho thấy sự chuyển dịch về cơ cấu lao động chưa tương thích với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong 5 năm qua chiếm xấp xỉ 21,6 % GDP nhưng lực lượng lao động ở nông thôn lại lớn (75,5%) phản ánh hiệu quả sử dụng lao động ở khu vực nông thôn, nông nghiệp thấp. Sự phân bổ lao động vẫn tập trung chủ yếu ở 3 vùng: Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ; 2 vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có diện tích đất tự nhiên lớn nhưng chưa thu hút được nhiều lao động, lao động ở 2 vùng này chỉ chiếm 8,8 % đó là xét về mặt lượng, về mặt chất vấn đề còn bức xúc hơn.
Thiếu nguồn nhân lực là khó khăn lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế của từng vùng.3 Chất lượng lao động ngày càng được cải thiện Chất lượng lao động được nâng lên, thể hiện qua số lượng lao động đã qua đào tạo và đào tạo nghề. Trình độ học vấn phổ thông của lao động trong độ tuổi ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ lao động không đi học và có trình độ từ bậc tiểu học trở xuống năm 1996 chiếm 22,3% đến nay giảm xuống còn 17,3%. Năm 1996, tỷ lệ lao động có việc làm chưa qua đào tạo là 87,5% và tỷ lệ qua đào tạo (tính lao động được đào tạo từ 3 tháng trở lên) là 12,5%.
Đến nay , tỷ lệ này tương ứng là 74,8% và 25,2%. Như vậy sau hơn 10 năm, tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo đã tăng gấp đôi. Năm 2006, khoảng 26,85% lao động từ 15 tuổi trở lên tốt nghiệp trung học cơ sở và 23,46% tốt nghiệp trung học phổ thông. Lao động qua đào tạo nghề tăng, giai đoạn 2001 - 2006 dạy nghề cho 6,6 triệu người (tăng bình quân 6,5%/năm), trong đó dạy nghề dài hạn cho 1,14 triệu người (tăng bình quân 15%/năm); lực lượng lao động xã hội qua đào tạo năm 2006 đạt 31,5%, trong đó, có 20% qua đào tạo nghề (năm 2001 là 13,4%), đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế; góp phần tạo cơ hội việc làm cho người lao động, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên chất lượng nguồn lực lao động ở Việt Nam vẫn còn thấp so với nhu cầu phát triển những ngành công nghệ mới. Phần lớn lao động ở nông thôn có trình độ văn hóa không cao hoặc được đào tạo không cơ bản. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn là 16,8% so với tổng số lao động có việc làm chỉ bằng 1/3 tỷ lệ này ở khu vực thành thị (51,4%) vì thế những ngành nghề có trình độ công nghệ cao khó phát triển. Lực lượng lao động ở nước ta tuy có số lượng lớn (năm 2006 là 45,6 triệu lao động), song chất lượng lao động còn thấp.
Phần lớn lao động Việt Nam (gần 70%) chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp hơn, chỉ chiếm khoảng 20%. Tính đến năm 2005, số người có trình độ đại học và cao đẳng trở lên là 2,4 triệu người, chiếm 5,5% tổng số lực lượng lao động, nhưng chất lượng còn thấp kém. Cả nước có 6,5 triệu công nhân kỹ thuật, trong đó 4,7 triệu người không có bằng, 1,6 triệu có chứng chỉ, bằng nghề và 430 ngàn người có trình độ sơ cấp. Hiện nay còn thiếu nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề, trước hết là trong các ngành trọng điểm (cơ khí, điện tử - kỹ thuật điện, hóa chất,.) và ở các khu công nghiệp lớn, các khu kinh tế mới thành lập.
Một bộ phận đáng kể là lao động trẻ chưa được đào tạo về nghề hoặc nếu được đào tạo thì còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Có đến trên 78% thanh niên ở nhóm tuổi 20 - 24 chưa được chuẩn bị về nghề khi tham gia thị trường lao động. Năm 2005, tỷ lệ học sinh tham gia đào tạo nghề nghiệp các loại so với tổng số thanh niên thuộc nhóm tuổi này chỉ khoảng 20% - 25%, kể cả dạy nghề ngắn hạn, trong khi tỷ lệ này của các nước phát triển tới 80% - 90%. Lao động trình độ cao thiếu nhiều, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản lý doanh nghiệp, chuyên gia kỹ thuật.
Quy mô đào tạo cấp bậc trình độ cao đẳng, đại học tăng quá nhanh (tăng bình quân 9,35%/năm thời kỳ 2001 - 2005) và không tương ứng với điều kiện về cơ sở vật chất, giảng viên, chương trình, phương pháp giảng dạy,. nên không đạt yêu cầu về chất lượng. Trong khi đó, quy mô dạy nghề lại tăng chậm nên cơ cấu đào tạo theo cấp bậc càng trở nên bất hợp lý. Cơ cấu đào tạo theo ngành nghề cũng bất hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế.
Đào tạo các ngành kỹ thuật - công nghệ; nông - lâm - ngư chiếm tỷ trọng thấp. Tỷ trọng các ngành xã hội, luật, kinh tế, ngoại ngữ,. lại quá cao. Vì vậy, cùng với cơ cấu ngành nghề đào tạo không phù hợp và chất lượng thấp, hiện nay Việt Nam đang thiếu nhiều kỹ sư, chỉ có 1,32 kỹ sư trên 1.
Lao động dịch vụ cao cấp các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng. và lao động quản lý cũng đang rơi vào tình trạng thiếu nghiêm trọng, nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài.4 Vị thế công việc Chỉ tiêu về vị thế công việc mô tả hành vi của người lao động và điều kiện làm việc, nó có thể được dùng để đánh giá sự thay đổi của khu vực phi chính thức trong thị trường lao động cũng như khu vực làm công ăn lương.1: Lao động có việc làm phân theo vị thế công việc 1996 - 2005 [7, tr.40] Đơn vị : triệu người Vị thế công việc 1996 1997 1998 1999 2000 1. Chủ sử dụng lao động 0,2 0,1 0,0 0,1 0,1 3. Tự làm việc cho bản thân 12,8 14,8 15,1 16,2 16,5 4.
Làm việc gia đình không hưởng công 16,2 14,1 14,0 14,6 14,2 5. Khác (không phân loại) 0,1 0,1 0,1 0,3 0,5 Tổng số 34,5 35,6 36,9 38,1 38,4 Vị thế công việc 2001 2002 2003 2004 2005 1. Chủ sử dụng lao động 0,1 0,1 0,2 0,2 0,2 3. Tự làm việc cho bản thân 15,7 16,2 16,9 17,4 17,8 4.
Làm việc gia đình không hưởng công 14,5 15,2 14,8 13,8 14,3 5. Khác (không phân loại) 0,6 0,3 0,3 0,0 0,0 Tổng số 39,0 40,2 41,2 42,3 43,4 Vị thế công việc phân việc làm thành 3 loại: Làm công (làm thuê); tự làm việc; làm việc gia đình không hưởng công. Tự làm việc lại chia thành 3 nhóm nhỏ: chủ sử dụng lao động (tự làm việc và có thuê công nhân), lao động làm việc cho bản thân và thành viên hợp tác xã sản xuất. Tự làm việc cho bản thân và làm việc gia đình không hưởng lương chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động có việc làm của nền kinh tế phản ánh phần lớn công việc được tạo ra trong khu vực kinh tế hộ gia đình và khu vực phi chính thức.
Số lượng lao động làm công tăng đáng kể từ 5 triệu năm 1996 lên 11,1 triệu năm 2005 đây là kết quả phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ.2 Thị trường lao động ở Việt Nam.1 Thể chế thị trường lao động Thể chế thị trường lao động bao gồm khung khổ pháp lý và hệ thống chính sách về thị trường lao động.