phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương và 6 tiết. Chƣơng I: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện giải quyết việc làm cho nông dân của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2005. Chƣơng II: Chủ trương và chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện giải quyết việc làm cho nông dân của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2006 đến năm 2014. Chƣơng III: Nhận xét và kinh nghiệm.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và tình hình giải quyết việc làm cho nông dân tỉnh Hải Dƣơng trƣớc năm 1997. Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội - Điều kiện tự nhiên Hải Dương là một trong 7 tỉnh, thành phố thuộc khu kinh tế trọng điểm phía bắc có ranh giới giáp với các tỉnh : phía Bắc, Đông Bắc giáp với tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Quảng Ninh; phía Nam giáp với Thái Bình; phía Tây giáp với tỉnh Hưng yên và phía Đông giáp với thành phố Hải Phòng. Hạ tầng giao thông Hải Dương được quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông trong tỉnh.
Mạng lưới đường bộ từng bước được tu sửa nâng cấp. Đến nay, mạng lưới giao thông đường bộ toàn tỉnh có tổng chiều dài 143,6km; 17 tuyến đường tỉnh tổng chiều dài 381 km; đường đô thị có 275 tuyến dài 192,73 km; đường huyện có 110 tuyến dài 432,48 km; đường xã thôn xóm có tổng chiều dài gần 8,2 nghìn km; 100% đường giao thông nông thôn liên thôn, liên xã được cứng hoá. Đường sắt và đường thuỷ khá thuận lợi, qua địa bàn tỉnh Hải Dương có 2 tuyến đường sắt quốc gia đang hoạt động: tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đoạn qua tỉnh dài 46,3 km có 6 ga và tuyến đường sắt Kép- Bãi Cháy ( Hạ Long) đoạn qua tỉnh dài 8,9km có 1 ga Chí Linh. Toàn tỉnh có 18 tuyến đường sông đang hoạt động, với tổng chiều dài 393,5 km trong đó có 12 tuyến do trung ương quản lý và 6 tuyến do địa phương quản lý.
Phần lớn các tuyến đường sông đều đạt chuẩn từ cấp III đến V, một số tuyến đạt cấp II cho phép tàu, sà lan trọng tải 200-1000 tấn đi lại. Về hạ tầng cấp điện: nguồn điện cho tỉnh được cấp từ nhà máy nhiệt điện Phả Lại 1 công suất 4x110MW và Phả Lại 2 công suất 2x300MW. Ngoài ra từ nhà máy nhiệt điện Phả Lại còn xuất tuyến hoà vào lưới điện quốc gia. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng diện tích đất tự nhiên của Hải Dương là 163.429 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 66,6%, đất phi nông nghiệp chiếm 32,9%, đất chưa sử dụng chiếm 0,05%.
Hải Dương được chia thành 2 vùng: vùng đồng bằng và vùng đồi núi. Vùng đồng bằng chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bối đắp, tầng canh tác dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, độ PH 5.5, đất đai màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm. Đối với diện tích đất phía Bắc tỉnh, tầng đất chua, thịt đất mỏng thì thích hợp trồng cây lạc, đậu tương.Vùng đồi núi chiếm 11% diện tích đất tự nhiên thuộc 13 xã huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn, đây là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Giống như các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông).
Lượng mưa trung bình hàng năm 1300-1700mm, nhiệt độ trung bình 23,40c, số giờ nắng trong năm 1524 giờ, độ ẩm tương đối trung bình 85-87%. Điều kiện khí hậu của tỉnh thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả, đặc biệt là sản xuất cây vụ đông. Hải Dương có hệ thống sông ngòi dày đặc bao gồm hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc, các sông trục Bắc Hưng Hải và An Kim Hải có khả năng bồi đắp phù sa, cung cấp nguồn nước cho đồng ruộng và đáp ứng nhu cầu sản xuất của các ngành, đồng thời đây cũng là tuyến đường giao thông thủy quan trọng, tạo điều kiện cho giao thông hàng hóa trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, sông ngòi nhiều thường gây ngập úng ở các vùng trũng vào mùa mưa bão, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của người dân.
Hải Dương có diện tích rừng 9140 ha trong đó rừng tự nhiên có 2384 ha, rừng trồng có 6756 ha tập trung ở 2 huyện Chí Linh và Kinh Môn. Nhìn chung hệ động thực vật ở đây không phong phú. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương tuy không nhiều chủng loại nhưng một số có trữ lượng lớn: đá vôi ở huyện Kinh Môn trữ lượng khoảng 200 triệu tấn, cao lanh ở Kinh Môn trữ lượng khoảng 40 vạn tấn, sét chịu lửa ở huyện Chí Linh trữ lượng khoảng 8 triệu tấn, Boxit ở huyện Kinh Môn trữ lượng khoảng 200,000 tấn. Nguồn nguyên liệu này, chất lượng tốt đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh do đó giảm được chi phí vận chuyển nguyên liệu, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh.
Đồng thời với trữ lượng lớn có thể cung cấp nguyên liệu cho trung ương và các tỉnh lân cận. Hải Dương có tiềm năng lớn về du lịch, nhất là du lịch văn hóa lịch sử và lễ hội, với 1.907 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 97 di tích được xếp hạng và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Côn Sơn, đền Kiếp Bạc, đền thờ Trần Liễu, tượng đài Trần Hưng Đạo, Chùa An Phụ, động Kính Chủ…các di tích và danh thắng chủ yếu tập trung vào 2 cụm di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc và An Phụng – Kính Chủ. Với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, sự thuận tiện trong giao thông đường thủy, đường bộ, đường sắt cũng như đường hàng không đã góp phần giúp tỉnh thu hút được nguồn vốn cả trong và ngoài nước hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Điều đó một mặt làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người nông dân, làm cho người nông dân bị mất hoàn toàn hoặc một phần đất sản xuất.
Mặt khác do sự đầu tư vào các khu công nghiệp cũng góp phần nâng cấp cơ sở hạ tầng, đường xá thuận tiện trong giao thương. Với các tuyến đường giao thông chiến lược chạy qua tỉnh góp phần giúp tỉnh có lợi thế trong giao lưu phát triển kinh tế- văn hóa, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, tạo thêm các cơ hội việc làm cho người lao động nói chung và nông dân nói riêng. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương Hiện nay tỉnh Hải Dương được chia thành 12 đơn vị hành chính, gồm thành phố Hải Dương và 11 huyện bao gồm huyện Bình Giang, Kẻ Sặt, Cẩm Giàng, Nam sách, Kinh Môn, Chí Linh, Thanh Hà, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Thanh Miện, Ninh Giang. Hải Dương là một tỉnh có quy mô dân số khá lớn trong vùng Đồng bằng sông Hồng với mật độ dân cư trung bình năm 2010 là 1.035 người/km 2 cao gấp 1,1 lần so với mật độ dân cư toàn vùng ( 832 người/km2).
Phần lớn dân số sống ở nông thôn 1.352,29 nghìn người trong đó khoảng hai phần ba sinh sống dựa vào nghề nông. Thời kỳ 2001-2010 quy mô dân số của tỉnh tăng chậm bình quân 0,33% / năm. Hàng năm có một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động di trú đến làm việc, học tập và sinh sống ở thủ đô hà Nội và các thành phố lớn khác. Nguồn lao động của tỉnh khá dồi dào, dân số trong độ tuổi lao động (từ 15-60 tuổi) năm 2010 có 1106,86 nghìn/người chiếm 64,62% dân số.
Năm 2010 lao động làm việc trong nền kinh tế của tỉnh có 979,78 nghìn người, trong đó lao đông qua đào tạo có 398,4 nghìn người chiếm tỷ lệ 40,66% trong 10 năm qua số lượng lao động trong nền kinh tế tăng bình quân 0,6% năm. Nguồn lao động có sức khoẻ, có truyền thống yêu nước, cần cù, chịu khó, thông minh hiếu học, tiếp thu nhanh kỹ thuật, đoàn kết thương yêu nhau. Đây là vốn quý để đào tạo huy động tham gia vào phát triển sản xuất, phát triển các ngành kinh tế ở tỉnh. Tuy nhiên do ảnh hưởng trong một thời gian dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, nặng nề tư tưởng “làm thầy hơn làm thợ”, lực lượng lao động này chủ yếu tập trung tại các vùng nông thôn do đó họ có tư tưởng cam chịu.
Dân số Hải Dương chủ yếu là dân số trẻ, năm 2000 dân số toàn tỉnh là 1.664 nghìn người, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là 54,7% đến năm 2009 tăng lên là 1.703 nghìn người trong đó dân số trong độ tuổi lao động chiếm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lực lượng lao động dồi dào, số người trong độ tuổi lao động đông là nguồn nhân lực quý sẵn sàng tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế tỉnh nhà. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp lớn, chất lượng lao động thấp, năng suất lao động chưa cao. Năm 2007 năng suất lao động xã hội của tỉnh đạt 18,7 triệu đồng/người thấp hơn bình quân chung cả nước 25,3 triệu/người.
Trong đó năng suất trong ngành nồng nghiệp thấp nhất 7,4 triệu đồng/người [6, tr 39]. Trong những năm qua tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nhiều biến chuyển. Kinh tế phát triển theo hướng đa ngành đa lĩnh vực, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh ( GRDP) tăng bình quân hàng năm 10,3% năm cao hơn tốc độ tăng trưởng của vùng đồng bằng Sông Hồng ( 10%/ năm) và cao gấp 1,4 lần tốc độ tăng trưởng chung của cả nước. Trong 10 năm GRDP đã tăng từ 6175 tỷ đồng lên 31361 tỷ đồng năm 2010, GRDP tăng bình quân đầu người tăng lên gấp 3,5 làn tù 261 USD/ người lên 904USD/ người [8,tr1 ].