Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi việc chuyển đổi một diện tích lớn đất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và hạ tầng. Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005, cả nước đã thu hồi 366.440 ha đất nông nghiệp, chiếm 3,89% tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng, trung bình mỗi năm chuyển đổi trên 73.000 ha. Trung bình mỗi hecta đất nông nghiệp bị thu hồi làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của hơn 10 lao động, và mỗi hộ gia đình trong diện giải tỏa có khoảng 1,5 lao động rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp.

Tỉnh Khánh Hòa, với lợi thế chiến lược vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, sở hữu hệ thống giao thông đồng bộ và tiềm năng cảng biển, đã đẩy nhanh tốc độ xây dựng các khu công nghiệp. Theo quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2010, địa phương này phê duyệt 5 khu công nghiệp tập trung với diện tích 885,82 ha và 10 cụm công nghiệp vừa và nhỏ với quy mô 467,1 ha. Việc thu hồi đất quy mô lớn ước tính tác động trực tiếp đến sinh kế của khoảng 29.000 lao động nông nghiệp địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ thu hồi đất và năng lực hấp thụ lao động của thị trường. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng việc làm của lao động sau giải tỏa đất tại Khánh Hòa, phân tích các rào cản về trình độ, kỹ năng, và đề xuất hệ thống giải pháp tạo việc làm bền vững giai đoạn 2006-2010. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn nhằm ngăn chặn hiện tượng người dân rơi vào cảnh nghèo nàn sau khi cạn kiệt tiền bồi thường, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị về quá trình tích tụ, tập trung tư bản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lý thuyết kinh tế chính trị xác định lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm cải biến giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất. Khi tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai bị thu hồi, mối liên kết tự nhiên giữa sức lao động và tư liệu sản xuất bị phá vỡ, đòi hỏi Nhà nước phải tái tổ chức phân công lao động xã hội.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết đô thị hóa của Eldrige về sự tập trung dân cư và biến đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ. Khung phân tích việc làm được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế và Bộ luật Lao động Việt Nam, xác định lực lượng lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động. Nghiên cứu phân loại chi tiết ba khái niệm then chốt: lao động đủ việc làm làm việc từ 35 giờ mỗi tuần trở lên, lao động thiếu việc làm làm việc dưới 35 giờ mỗi tuần nhưng có nhu cầu làm thêm, và người thất nghiệp không có việc làm dù đang tích cực tìm kiếm. Khái niệm thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề được chuẩn hóa theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 197/2004/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2002-2006, kết hợp dữ liệu sơ cấp từ cuộc điều tra xã hội học thực hiện năm 2006. Khảo sát thực địa được tiến hành tại 3 địa bàn trọng điểm đại diện cho các mô hình chuyển đổi đất: xã Diên Phú thuộc huyện Diên Khánh, xã Ninh Thủy thuộc huyện Ninh Hòa và xã Vĩnh Thái thuộc thành phố Nha Trang với quy mô mẫu 300 hộ gia đình bị thu hồi đất.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho các nhóm hộ bị thu hồi toàn bộ, thu hồi một phần đất và đa dạng độ tuổi lao động. Tác giả áp dụng tổng hợp các phương pháp toán thống kê, phân tích so sánh kinh tế, tính toán hệ số co giãn việc làm theo tổng sản phẩm nội tỉnh và kỹ thuật thảo luận nhóm chuyên sâu. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mức độ biến động cơ cấu nghề nghiệp, làm rõ bản chất các quan hệ kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình tái phân công lao động sau giải tỏa mặt bằng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ thu hút lao động của các dự án công nghiệp chưa tương xứng với quy mô đất bị thu hồi. Tại thời điểm khảo sát, Khu công nghiệp Suối Dầu và Cụm công nghiệp Diên Phú đi vào vận hành đã giải quyết việc làm cho khoảng 14.000 lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động tại chỗ thuộc diện hộ bị mất đất được tuyển dụng vào các doanh nghiệp này chỉ chiếm khoảng 25% đến 30%, phần lớn chỉ đảm nhận các công việc giản đơn.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực bị thu hồi đất bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Dữ liệu khảo sát năm 2006 cho thấy trên 70% lực lượng lao động mất đất chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn tập trung chủ yếu ở bậc trung học cơ sở và tiểu học. Điều này tạo ra rào cản lớn khi các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại yêu cầu công nhân kỹ thuật có chứng chỉ nghề.

Thứ ba, sự phân hóa việc làm theo độ tuổi diễn ra gay gắt. Nhóm lao động trên 40 tuổi chịu tổn thương nặng nề nhất, chiếm hơn 45% tổng số lao động thất nghiệp hoặc thiếu việc làm sau thu hồi đất. Tỷ lệ lao động làm việc dưới 35 giờ mỗi tuần sau khi mất đất tăng lên mức 35%, cao hơn 15% so với giai đoạn trước khi bị thu hồi đất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ cơ chế bồi thường chủ yếu bằng tiền tệ hóa theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP và Nghị định 197/2004/NĐ-CP mà thiếu phương án đào tạo nghề dài hạn đi kèm. Trên 60% hộ gia đình sử dụng tiền đền bù vào việc xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ dùng sinh hoạt thay vì đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp hay mở rộng sản xuất kinh doanh, dẫn đến hiện tượng giàu giả nhưng nghèo thật về mặt sinh kế lâu dài.

So sánh với các nghiên cứu tại các vùng kinh tế trọng điểm như Vĩnh Phúc hay Bình Dương, sự thiếu hụt mạng lưới thông tin thị trường lao động tại Khánh Hòa khiến khả năng tự tìm kiếm việc làm của nông dân rất thấp. Khi thảo luận kết quả, tác giả mô tả dữ liệu tương quan thông qua hệ số co giãn GDP và việc làm trên bảng thống kê, phản ánh thực tế tăng trưởng kinh tế của tỉnh chưa tạo ra số lượng việc làm phi nông nghiệp tương ứng cho người dân địa phương. Mô hình biểu đồ cơ cấu theo độ tuổi cũng minh chứng rõ nét nhóm lao động trung niên hầu như bị loại trừ khỏi thị trường tuyển dụng công nghiệp, buộc phải dạt sang khu vực kinh tế phi chính thức với thu nhập bấp bênh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn bị thu hồi đất theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg và Chỉ thị 11/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa cần chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đào tạo theo đơn đặt hàng, nâng mức hỗ trợ học nghề ngắn hạn từ ngân sách lên mức tối thiểu 300.000 đồng mỗi người mỗi tháng, mục tiêu đạt 70% lao động sau đào tạo có việc làm chính thức đến năm 2010.

Thứ hai, thiết lập chính sách việc làm đặc thù cho nhóm lao động trên 40 tuổi không còn khả năng tuyển dụng vào khu công nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cần chỉ đạo Ngân hàng Chính sách Xã hội ưu tiên phân bổ nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về Việc làm, hỗ trợ các hộ gia đình phát triển mô hình kinh tế trang trại, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch cộng đồng tại chỗ, bảo đảm 100% lao động lớn tuổi có cơ hội duy trì thu nhập.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế gắn kết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sử dụng đất. Ban Quản lý các Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh Khánh Hòa cần quy định tỷ lệ bắt buộc các nhà đầu tư thứ cấp phải dành tối thiểu 20% đến 30% chỉ tiêu tuyển dụng lao động phổ thông cho cư dân thuộc diện giải tỏa mặt bằng của dự án, đồng thời hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề chuyển tiếp.

Thứ tư, nâng cao năng lực hệ thống sàn giao dịch việc làm và trung tâm giới thiệu việc làm công lập. Địa phương cần tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động định kỳ mỗi quý một lần tại các xã có đất bị thu hồi, cung cấp thông tin thị trường minh bạch và tư vấn hướng nghiệp miễn phí cho người lao động trước khi thực hiện bàn giao mặt bằng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh và trung ương, đặc biệt là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch thu hồi đất đồng bộ với kế hoạch an sinh xã hội và đào tạo nguồn nhân lực địa phương.

Thứ hai, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế và các chủ đầu tư hạ tầng đô thị. Luận văn hỗ trợ xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư và tuyển dụng lao động bản địa một cách hài hòa, hạn chế tối đa các tranh chấp đất đai kéo dài.

Thứ ba, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm dịch vụ việc làm. Báo cáo cung cấp dữ liệu chi tiết về khoảng cách kỹ năng của nông dân mất đất, giúp thiết kế chương trình giảng dạy thực tế, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của các khu công nghiệp ven biển.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp lý thuyết phân công lao động xã hội với các công cụ phân tích kinh tế định lượng trong quản lý thị trường lao động.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình thu hồi đất tại tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2006-2010 ảnh hưởng đến bao nhiêu lao động nông nghiệp? Theo quy hoạch phát triển 5 khu công nghiệp và 10 cụm công nghiệp với tổng diện tích hơn 1.350 ha, ước tính có khoảng 29.000 lao động nông nghiệp tại Khánh Hòa phải chuyển đổi nghề nghiệp do đất sản xuất bị thu hẹp hoặc mất hoàn toàn.

Tại sao người nông dân sau khi nhận tiền đền bù đất lại dễ rơi vào tình trạng thiếu việc làm bền vững? Do chính sách bồi thường chủ yếu chi trả bằng tiền mặt, trong khi người dân thiếu kỹ năng quản lý tài chính và định hướng nghề nghiệp. Hơn 60% số tiền đền bù được sử dụng vào tiêu dùng, xây dựng nhà cửa thay vì đầu tư học nghề hay sản xuất kinh doanh lâu dài.

Mức hỗ trợ học nghề ngắn hạn cho lao động vùng thu hồi đất được áp dụng như thế nào? Căn cứ theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH, lao động bị thu hồi đất được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn tối đa 300.000 đồng mỗi người mỗi tháng và không quá 1.000.000 đồng cho một khóa học hoàn chỉnh.

Nhóm đối tượng lao động nào gặp rủi ro cao nhất khi bị thu hồi đất sản xuất? Nhóm lao động trên 40 tuổi chịu rủi ro cao nhất, chiếm trên 45% số người thất nghiệp hoặc thiếu việc làm tại vùng giải tỏa, do rào cản về tuổi tác, trình độ văn hóa thấp và không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp công nghiệp.

Doanh nghiệp tiếp nhận đất dự án có trách nhiệm gì đối với lao động địa phương? Theo Chỉ thị 11/2006/CT-TTg và các định hướng chính sách của tỉnh, doanh nghiệp được giao đất phải có trách nhiệm ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương bị thu hồi đất và phối hợp tài trợ chi phí đào tạo nghề chuyển đổi cho các đối tượng này.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện xuất sắc các nhiệm vụ khoa học và thực tiễn thông qua các nội dung cốt lõi sau:

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận kinh tế chính trị về mối quan hệ biện chứng giữa thu hồi đất, phân công lại lao động xã hội và giải quyết việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng việc làm tại các vùng chuyển đổi đất trọng điểm của tỉnh Khánh Hòa như Diên Khánh, Ninh Hòa và Nha Trang, chỉ rõ các điểm nghẽn về trình độ chuyên môn kỹ thuật của hơn 70% lao động bản địa.
  • Phân tích rõ ràng hạn chế của mô hình đền bù bằng tiền mặt đơn thuần, cảnh báo nguy cơ bất ổn xã hội khi hàng vạn nông dân thiếu sinh kế lâu dài.
  • Đề xuất khung giải pháp tổng thể gắn kết chính sách đào tạo nghề theo địa chỉ, thành lập quỹ tín dụng sinh kế cho lao động lớn tuổi và bắt buộc định mức tuyển dụng đối với doanh nghiệp khu công nghiệp.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn vững chắc, định hình lộ trình chuyển đổi việc làm bền vững cho khoảng 29.000 lao động đến năm 2010.

Để hiện thực hóa các mục tiêu an sinh xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và các sở, ngành liên quan cần khẩn trương rà soát lại quy hoạch sử dụng đất, triển khai đồng bộ các gói hỗ trợ đào tạo nghề và dịch vụ việc làm ngay từ giai đoạn lập dự án đầu tư. Quý độc giả, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác thực tiễn và phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.