Luận Văn Thạc Sĩ Về Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động Vùng Thu Hồi Đất Tỉnh Khánh Hòa

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất tại tỉnh Khánh Hòa, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2008

137
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT

1.1. Thu hồi đất gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

1.2. Khái niệm cơ bản

1.3. Chủ trương chính sách về giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất

1.4. Kinh nghiệm giải quyết việc làm một số tỉnh/thành phố trong nước và bài học rút ra cho tỉnh Khánh Hòa

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT TỈNH KHÁNH HÒA

2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm kinh tế: tình hình phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật

2.1.3. Đặc điểm về xã hội: cơ sở hạ tầng xã hội

2.2. Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở Khánh Hòa

2.2.1. Tình hình thu hồi đất

2.2.2. Các chủ trương, chính sách, chương trình dự án về giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất

2.2.3. Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở Khánh Hòa

2.2.3.1. Kết quả đạt được (những thành công trong giải quyết việc làm)
2.2.3.2. Hạn chế tồn tại, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất Khánh Hòa

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT Ở TỈNH KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Quan điểm, định hướng về giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất Khánh Hòa

3.1.1. Về quan điểm xây dựng chính sách liên quan đến thu hồi đất

3.1.2. Quan điểm về hoàn thiện chính sách đền bù khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp và tái định cư ở nông thôn

3.1.3. Quan điểm về chính sách và quy hoạch sử dụng đất một cách hợp lý

3.1.4. Cần có điều tra, khảo sát trước khi phê duyệt dự án đầu tư cần thu hồi đất

3.1.5. Quan điểm định hướng về đổi mới phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

3.2. Các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất Khánh Hòa

3.2.1. Phát triển, tăng cường công tác đào tạo nghề nhằm giải quyết việc làm

3.2.2. Các chính sách hỗ trợ tạo việc làm

3.2.3. Phát triển thị trường lao động

3.2.4. Cần có hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn về sử dụng tiền đền bù, tư vấn, tuyền truyền về các phương án đào tạo nghề, giải quyết việc làm

3.2.5. Chính sách tạo việc làm đối với lao động lớn tuổi

3.2.6. Một số khuyến nghị khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động Vùng Thu Hồi Đất Tỉnh Khánh Hòa

Việc giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Tỉnh Khánh Hòa, với vị trí địa lý thuận lợi, đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các khu công nghiệp và đô thị. Điều này đã tạo ra nhiều thách thức cho người lao động, đặc biệt là những người bị mất đất canh tác. Cần có những chính sách và giải pháp hiệu quả để hỗ trợ họ trong việc tìm kiếm việc làm mới.

1.1. Tình Hình Việc Làm Tại Khánh Hòa Hiện Nay

Tình hình việc làm tại Khánh Hòa đang có nhiều biến động do quá trình thu hồi đất. Nhiều lao động nông nghiệp bị mất việc làm, trong khi các khu công nghiệp chưa đủ khả năng hấp thụ lao động. Cần có sự đánh giá thực trạng để đưa ra các giải pháp phù hợp.

1.2. Chính Sách Hỗ Trợ Người Lao Động Bị Thu Hồi Đất

Chính sách hỗ trợ người lao động bị thu hồi đất cần được cải thiện. Các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và tư vấn việc làm là cần thiết để giúp họ chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định cuộc sống.

II. Thách Thức Trong Việc Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động Vùng Thu Hồi Đất

Việc giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất gặp nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là khả năng tiếp cận đào tạo nghề và thông tin việc làm. Nhiều người lao động không có đủ kỹ năng để chuyển đổi sang các ngành nghề mới, trong khi thị trường lao động đang thay đổi nhanh chóng.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Đào Tạo Nghề

Nhiều lao động không có cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo nghề phù hợp. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt kỹ năng cần thiết cho các ngành công nghiệp mới, làm giảm khả năng tìm kiếm việc làm của họ.

2.2. Thiếu Thông Tin Về Thị Trường Lao Động

Người lao động thường thiếu thông tin về các cơ hội việc làm mới. Việc này làm cho họ khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực và nhu cầu của thị trường.

III. Phương Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động Vùng Thu Hồi Đất

Để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm việc phát triển chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận thông tin việc làm.

3.1. Đào Tạo Nghề Đáp Ứng Nhu Cầu Thị Trường

Cần phát triển các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Việc này sẽ giúp người lao động có kỹ năng cần thiết để tìm kiếm việc làm trong các ngành công nghiệp mới.

3.2. Hỗ Trợ Tài Chính Cho Người Lao Động

Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho người lao động bị thu hồi đất. Điều này có thể bao gồm các khoản vay ưu đãi hoặc trợ cấp để giúp họ ổn định cuộc sống trong thời gian tìm kiếm việc làm mới.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Khánh Hòa

Các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Khánh Hòa cho thấy rằng việc giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất cần phải được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Các chương trình hỗ trợ cần được triển khai rộng rãi và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Các Chương Trình Hỗ Trợ

Nhiều chương trình hỗ trợ đã giúp người lao động tìm kiếm việc làm mới và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, cần tiếp tục đánh giá và điều chỉnh các chương trình này để đạt hiệu quả cao hơn.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Tỉnh Khác

Các tỉnh khác đã có những kinh nghiệm thành công trong việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất. Cần học hỏi và áp dụng những bài học này vào thực tiễn tại Khánh Hòa.

V. Kết Luận Và Định Hướng Tương Lai Về Giải Quyết Việc Làm

Giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và cộng đồng để tạo ra môi trường thuận lợi cho người lao động tìm kiếm việc làm mới.

5.1. Định Hướng Chính Sách Trong Tương Lai

Cần xây dựng các chính sách dài hạn nhằm hỗ trợ người lao động bị thu hồi đất. Các chính sách này cần phải linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Bên Liên Quan

Việc tăng cường hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ giúp tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động. Sự phối hợp này là cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong việc giải quyết việc làm.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất Chương 2: Thực trạng về giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất tỉnh Khánh Hòa Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới 12 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT 1. Thu hồi đất và những tác động của nó đến việc làm của ngƣời lao động 1.1 Thu hồi đất gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa 1. Khái niệm về thu hồi đất Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.

Theo khoản 2, 4 điều 5 Luật đất đai năm 2003 của Việt Nam qui định Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau: a) Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); b) Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; d) Định giá đất. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. [11] 13 Cũng theo Luật đất đai qui định tại điều 7 thì: 1. Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.

Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này.

[11, điều 7] Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; 14 c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; g) Thống kê, kiểm kê đất đai; h) Quản lý tài chính về đất đai; i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. [11, điều 6] Khái niệm về thu hồi đất qui định trong Luật đất đai được hiểu như sau: 15 “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.” “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.

Thu hồi đất nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Đại hội VII của Đảng đã quyết định Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991- 2000. Trong chiến lược đã định hướng rõ nước ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chiến lược này được Đại hội IX đánh giá việc thực hiện và quyết định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho 10 năm đầu của thế kỷ XXI trong đó tiếp tục nhấn mạnh việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VII đã nêu ra khái niệm “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [8].

16 Về mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã ghi rõ: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [9]. Tóm lại, Công nghiệp hóa là một quá trình cải biến toàn diện nền kinh tế cả về mặt kỹ thuật sản xuất lẫn thể chế và cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, một nội dung mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thực hiện các yêu cầu của quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu hóa, bao hàm cả quá trình thể chế liên quan đến xu hướng tự do hóa, phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế toàn cầu.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một vấn đề rất lớn, xét về cả mặt lý thuyết và thực tiễn. Quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở điều kiện mỗi nước có nét riêng, nó là sự vận dụng quá trình có tính chất phổ biến phù hợp với điều kiện từng nước. Ở nước ta, nội dung chủ yếu của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định như sau : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, đồng thời đào tạo nâng cao tri thức, kỹ năng, tay nghề cho người lao động, trước hết hướng vào các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Đó là quá trình chuyển dịch nền sản xuất xã hội từ trình độ thấp lên trình độ công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao động cao.

Công nghiệp hóa gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do đó, quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai đoạn nào đều vừa là quá trình kinh tế 17 - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Vì vậy, khi thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa sẽ thủ tiêu sự lạc hậu về kỹ thuật, sự yếu kém về kinh tế. Đồng thời quá trình đó cũng gắn liền với quá trình phát triển về xã hội, nâng cao dân trí, cải thiện mức sống của nhân dân.

Hiện đại hóa được hiểu là công nghệ sử dụng yếu tố kỹ thuật tiên tiến „đời chót‟. Hiện đại hóa là quá trình phát triển có tính kế thừa và tính chất liên kết cao độ giữa tính hiện đại của máy móc thiết bị với lao động kỹ thuật, có kỷ luật của con người với các phương pháp quản lý và tổ chức khoa học, trên cơ sở tiếp thu các thành tựu mới nhất của nhân loại. Như vậy, cốt lõi của hiện đại hóa nền kinh tế là tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với sự đổi mới căn bản về công nghệ, phát triển mạnh các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Đô thị là một vùng lãnh thổ nhất định có mật độ dân số cao hơn so với các khu vực khác, là nơi có ưu thế cho phép tập trung mật độ hoạt động kinh tế cao, là trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội của một địa phương, 1 vùng hoặc 1 quốc gia.

Từ cách hiểu đô thị như vậy, ta có thể đưa ra khái niệm về đô thị hóa theo cách mà Eldrige định nghĩa về đô thị hóa như sau: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư, quá trình đó được tiến hành theo 2 cách : sự tăng lên của các điểm tập trung dân cư và sự tăng lên về qui mô của từng điểm tập trung đó” [dẫn theo 21]. Như vậy, nói đến đô thị hóa là đề cập đến quá trình hình thành và phát triển, mở rộng các thành phố gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ