Luận văn: Giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa

Giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở Khánh Hòa, phân tích kinh tế và các giải pháp hiệu quả trong luận văn thạc sĩ.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2008

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT

1.1. Thu hồi đất gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT TỈNH KHÁNH HÒA

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT Ở TỈNH KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN TỚI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất tỉnh Khánh Hòa

Việc giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Tỉnh Khánh Hòa, với vị trí địa lý thuận lợi, đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các khu công nghiệp và đô thị. Điều này đã tạo ra nhiều thách thức cho người lao động, đặc biệt là những người nông dân bị mất đất canh tác. Việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả để hỗ trợ người lao động trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm mới là rất cần thiết.

1.1. Tình hình thu hồi đất và tác động đến người lao động

Quá trình thu hồi đất ở Khánh Hòa đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người lao động. Nhiều người mất đất canh tác, dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm. Theo thống kê, khoảng 29% lao động nông nghiệp phải chuyển đổi ngành nghề, nhưng không phải ai cũng có khả năng thích ứng với công việc mới.

1.2. Chính sách hỗ trợ người lao động vùng thu hồi đất

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ người lao động bị thu hồi đất, bao gồm các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này còn gặp nhiều khó khăn, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và địa phương.

II. Thách thức trong việc giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất

Việc giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở Khánh Hòa đối mặt với nhiều thách thức. Sự chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ không chỉ đòi hỏi kỹ năng mới mà còn cần thời gian để thích nghi. Nhiều lao động lớn tuổi gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chương trình đào tạo nghề, dẫn đến tình trạng thất nghiệp kéo dài.

2.1. Khó khăn trong việc đào tạo nghề cho lao động

Nhiều lao động không có điều kiện tham gia các khóa đào tạo nghề do thiếu thông tin và tài chính. Điều này dẫn đến việc họ không thể tìm được việc làm phù hợp sau khi mất đất.

2.2. Tình hình thị trường lao động tại Khánh Hòa

Thị trường lao động tại Khánh Hòa đang trong quá trình chuyển đổi, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Nhu cầu lao động trong các khu công nghiệp tăng cao, nhưng không đủ nguồn nhân lực có kỹ năng phù hợp để đáp ứng.

III. Phương pháp giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất

Để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc phát triển các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận thông tin việc làm là rất quan trọng. Các giải pháp này không chỉ giúp người lao động có việc làm mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

3.1. Đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng để giúp người lao động chuyển đổi nghề nghiệp. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, giúp người lao động có kỹ năng cần thiết.

3.2. Hỗ trợ tài chính cho người lao động

Cung cấp hỗ trợ tài chính cho người lao động bị thu hồi đất là cần thiết để họ có thể đầu tư vào việc học nghề hoặc khởi nghiệp. Các chính sách hỗ trợ cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Khánh Hòa

Nghiên cứu về giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất tại Khánh Hòa đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Một số chương trình đào tạo nghề đã được triển khai và nhận được sự quan tâm của người lao động. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để cải thiện tình hình việc làm cho người dân.

4.1. Kết quả đạt được từ các chương trình đào tạo

Nhiều lao động đã tìm được việc làm sau khi tham gia các chương trình đào tạo nghề. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề cho người lao động.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học từ thực tiễn cho thấy rằng việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng và địa phương là rất quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. Cần có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình này.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho người lao động vùng thu hồi đất

Giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Cần có các chính sách đồng bộ và hiệu quả để hỗ trợ người lao động trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm mới. Tương lai của người lao động phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả cộng đồng và chính quyền địa phương.

5.1. Định hướng phát triển bền vững cho người lao động

Cần xây dựng các chính sách phát triển bền vững, đảm bảo người lao động có cơ hội việc làm và thu nhập ổn định. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống của người dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh.

5.2. Tương lai của thị trường lao động tại Khánh Hòa

Thị trường lao động tại Khánh Hòa sẽ tiếp tục phát triển, nhưng cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho sự thành công trong tương lai.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT 1. Thu hồi đất và những tác động của nó đến việc làm của người lao động 1.1 Thu hồi đất gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa 1. Khái niệm về thu hồi đất Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.

Theo khoản 2, 4 điều 5 Luật đất đai năm 2003 của Việt Nam qui định Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau: a) Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); b) Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; d) Định giá đất. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. [11] 13 Cũng theo Luật đất đai qui định tại điều 7 thì: 1. Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.

Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này.

[11, điều 7] Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; 14 c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; g) Thống kê, kiểm kê đất đai; h) Quản lý tài chính về đất đai; i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. [11, điều 6] Khái niệm về thu hồi đất qui định trong Luật đất đai được hiểu như sau: 15 “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.” “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.

Thu hồi đất nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Đại hội VII của Đảng đã quyết định Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991- 2000. Trong chiến lược đã định hướng rõ nước ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chiến lược này được Đại hội IX đánh giá việc thực hiện và quyết định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho 10 năm đầu của thế kỷ XXI trong đó tiếp tục nhấn mạnh việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VII đã nêu ra khái niệm “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [8].

16 Về mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã ghi rõ: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [9]. Tóm lại, Công nghiệp hóa là một quá trình cải biến toàn diện nền kinh tế cả về mặt kỹ thuật sản xuất lẫn thể chế và cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, một nội dung mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thực hiện các yêu cầu của quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu hóa, bao hàm cả quá trình thể chế liên quan đến xu hướng tự do hóa, phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế toàn cầu.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một vấn đề rất lớn, xét về cả mặt lý thuyết và thực tiễn. Quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở điều kiện mỗi nước có nét riêng, nó là sự vận dụng quá trình có tính chất phổ biến phù hợp với điều kiện từng nước. Ở nước ta, nội dung chủ yếu của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định như sau : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, đồng thời đào tạo nâng cao tri thức, kỹ năng, tay nghề cho người lao động, trước hết hướng vào các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Đó là quá trình chuyển dịch nền sản xuất xã hội từ trình độ thấp lên trình độ công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao động cao.

Công nghiệp hóa gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do đó, quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai đoạn nào đều vừa là quá trình kinh tế 17 - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Vì vậy, khi thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa sẽ thủ tiêu sự lạc hậu về kỹ thuật, sự yếu kém về kinh tế. Đồng thời quá trình đó cũng gắn liền với quá trình phát triển về xã hội, nâng cao dân trí, cải thiện mức sống của nhân dân.

Hiện đại hóa được hiểu là công nghệ sử dụng yếu tố kỹ thuật tiên tiến „đời chót‟. Hiện đại hóa là quá trình phát triển có tính kế thừa và tính chất liên kết cao độ giữa tính hiện đại của máy móc thiết bị với lao động kỹ thuật, có kỷ luật của con người với các phương pháp quản lý và tổ chức khoa học, trên cơ sở tiếp thu các thành tựu mới nhất của nhân loại. Như vậy, cốt lõi của hiện đại hóa nền kinh tế là tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với sự đổi mới căn bản về công nghệ, phát triển mạnh các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Đô thị là một vùng lãnh thổ nhất định có mật độ dân số cao hơn so với các khu vực khác, là nơi có ưu thế cho phép tập trung mật độ hoạt động kinh tế cao, là trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội của một địa phương, 1 vùng hoặc 1 quốc gia.

Từ cách hiểu đô thị như vậy, ta có thể đưa ra khái niệm về đô thị hóa theo cách mà Eldrige định nghĩa về đô thị hóa như sau: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư, quá trình đó được tiến hành theo 2 cách : sự tăng lên của các điểm tập trung dân cư và sự tăng lên về qui mô của từng điểm tập trung đó” [dẫn theo 21]. Như vậy, nói đến đô thị hóa là đề cập đến quá trình hình thành và phát triển, mở rộng các thành phố gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi nước. Đó cũng là quá trình biến đổi các khu nông thôn thành đô thị, biến các vùng có mật độ dân cư thưa thành các vùng có mật độ dân cư đông đúc, có hoạt 18 động kinh tế xã hội phong phú, có đời sống tinh thần và vật chất cao và phong phú hơn các vùng lân cận. Quá trình đô thị hóa cũng được hiểu là quá trình cải biến cơ cấu kinh tế của từng khu vực theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ