Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005 đã chứng kiến sự chuyển đổi mục đích sử dụng của 366.440 ha đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, bình quân mỗi năm thu hồi hơn 73.000 ha. Trung bình mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi tác động trực tiếp đến sinh kế của trên 10 lao động nông thôn. Tại tỉnh Khánh Hòa, với lợi thế chiến lược về cảng biển, du lịch và giao thương, quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2010 đã xác định xây dựng 5 khu công nghiệp tập trung với diện tích 885,82 ha và 10 cụm công nghiệp vừa và nhỏ quy mô 467,1 ha. Tổng diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi sang công nghiệp đạt hơn 1.350 ha, kéo theo khoảng 29.000 lao động nông nghiệp phải thay đổi sinh kế và nghề nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mất cân đối gay gắt giữa tốc độ thu hồi đất nông nghiệp và khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của người dân địa phương. Đa phần người nông dân thuần túy thiếu kỹ năng nghề, trong khi cơ chế bồi thường chủ yếu bằng tiền tệ hóa chưa gắn liền với giải pháp sinh kế lâu dài, dẫn tới nguy cơ thất nghiệp cục bộ và phân hóa giàu nghèo.

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng việc làm, xác định các điểm nghẽn trong công tác đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế cho người dân vùng giải tỏa tại Khánh Hòa. Phạm vi khảo sát tập trung tại các địa bàn trọng điểm như xã Diên Phú (huyện Diên Khánh), xã Ninh Thủy (huyện Ninh Hòa) và xã Vĩnh Thái (thành phố Nha Trang) với dữ liệu thực chứng thu thập trong năm 2006 cùng chuỗi số liệu kinh tế giai đoạn 2002-2006. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm giải quyết việc làm bền vững, ổn định thu nhập cho hơn 29.000 lao động và thúc đẩy kinh tế địa phương tăng trưởng hài hòa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và lý thuyết đô thị hóa của Eldrige, khẳng định đô thị hóa là quá trình phân công lại lao động xã hội và tái cơ cấu nguồn lực lãnh thổ. Theo học thuyết giá trị và tái sản xuất sức lao động của Karl Marx, lao động là hoạt động có mục đích kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi tự nhiên phục vụ đời sống con người.

Luận văn vận dụng các khái niệm chuẩn mực theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Bộ luật Lao động Việt Nam: lực lượng lao động (dân số đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam, 15 đến 55 tuổi đối với nữ có khả năng lao động), việc làm (mọi hoạt động lao động hợp pháp tạo ra thu nhập), người thiếu việc làm (làm việc dưới 35 giờ/tuần và có nhu cầu làm thêm) và thất nghiệp. Hệ thống chính sách điều chỉnh được soi chiếu qua Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường hỗ trợ tái định cư, Quyết định 81/2005/QĐ-TTg về hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn tối đa 300.000 đồng/người/tháng và 1.000.000 đồng/người/khóa học, cùng Chỉ thị 11/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giải pháp việc làm vùng chuyển đổi đất nông nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn tích hợp từ hai kênh: dữ liệu thứ cấp từ Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2002-2006 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa năm 2006. Cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 541 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp tại 3 khu vực đại diện gồm Diên Phú, Ninh Thủy và Vĩnh Thái. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích toán thống kê, phân tích hệ số co giãn giữa tăng trưởng GDP với việc làm và so sánh cấu cấu kinh tế - xã hội trước và sau thu hồi đất xuất phát từ bản chất duy vật biện chứng. Phương pháp này cho phép đo lường chính xác các biến động về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật, vị trí địa lý làm việc và tần suất thời gian lao động, từ đó lượng hóa những rào cản khách quan của thị trường lao động Khánh Hòa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tác động thu hồi đất dẫn tới tỷ lệ mất việc làm và thiếu việc làm cục bộ tăng cao. Trung bình mỗi hộ gia đình bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc không có việc làm thường xuyên. Trước khi thu hồi đất, tỷ lệ nông dân có việc làm ổn định trong nông nghiệp chiếm trên 85%, nhưng sau giải tỏa, con số này giảm mạnh xuống dưới 35% do mất tư liệu sản xuất chính.

Thứ hai, rào cản nghiêm trọng về trình độ chuyên môn kỹ thuật và độ tuổi. Hơn 80% lao động trong diện thu hồi đất chưa từng qua đào tạo nghề chính quy, chủ yếu chỉ tốt nghiệp tiểu học hoặc trung học cơ sở. Nhóm lao động từ 35 đến 50 tuổi chiếm tỷ trọng hơn 45% trong tổng số người mất đất nhưng gặp khó khăn lớn nhất khi chuyển đổi nghề nghiệp, bởi các doanh nghiệp công nghiệp chỉ ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ dưới 30 tuổi có chứng chỉ nghề.

Thứ ba, sự phân hóa trong kết quả tạo việc làm mới. Mặc dù Khu công nghiệp Suối Dầu và Cụm công nghiệp Diên Phú đã giải quyết việc làm cho khoảng 14.000 lao động, phần lớn số việc làm này lại thuộc về lao động phổ thông di cư hoặc lao động trẻ ngoài vùng dự án. Xuất hiện phổ biến hiện tượng tiêu cực mang tính nghịch lý là người nông dân sau khi nhận hàng trăm triệu đồng tiền bền bù đã chi tiêu vào mua sắm gia dụng, xây nhà kiên cố thay vì đầu tư học nghề, dẫn đến tình trạng suy kiệt tài chính sau 1 đến 2 năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế bồi thường thuần túy bằng tiền tệ theo các quy định cũ, thiếu vắng các gói dịch vụ hỗ trợ sinh kế và hướng nghiệp song hành. Doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp chưa có cơ chế bắt buộc về tỷ lệ tiếp nhận lao động tại chỗ có đất bị thu hồi. Khi so sánh với các đô thị như Đà Nẵng hay Bình Dương, Khánh Hòa triển khai chính sách đào tạo nghề ngắn hạn theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg còn chậm, mức hỗ trợ 1.000.000 đồng/người/khóa chưa đủ trang trải chi phí học các nghề đòi hỏi tay nghề cao.

Trong thực tế phân tích dữ liệu, các biến số này được thể hiện rõ nét qua biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành và bảng tương quan giữa độ tuổi với trình độ chuyên môn. Biểu đồ chỉ ra sự sụt giảm thẳng đứng của khu vực nông nghiệp và sự gia tăng không tương xứng của khu vực công nghiệp - dịch vụ, trong khi bảng số liệu phản ánh rõ nét việc lao động lớn tuổi gần như bị loại khỏi thị trường lao động chính thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng và quy mô đào tạo nghề ngắn hạn. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn, triển khai đào tạo nghề theo địa chỉ sử dụng cho 60% đến 70% lao động dưới 35 tuổi bị thu hồi đất trong giai đoạn 2008-2010. Tăng mức định mức hỗ trợ tài chính cho các khóa đào tạo công nhân kỹ thuật cơ khí, chế biến thủy sản và du lịch dịch vụ.

Thứ hai, thiết lập cơ chế liên kết bắt buộc giữa nhà đầu tư khu công nghiệp và chính quyền địa phương. Ban Quản lý Khu kinh tế Vân Phong và các khu công nghiệp Khánh Hòa cần đưa điều khoản cam kết tuyển dụng tối thiểu 30% đến 40% lao động địa phương bị giải tỏa vào quy chế cấp phép đầu tư dự án mới tại các cụm công nghiệp Diên Phú, Đắc Lộc và Ninh Thủy.

Thứ ba, cải cách cơ chế bồi thường và hỗ trợ tái định cư. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cần thay thế phương thức chi trả tiền mặt 100% bằng mô hình kết hợp: đền bù đất sản xuất kèm theo đất dịch vụ thương mại liền kề khu công nghiệp, cấp thẻ học nghề miễn phí có thời hạn 3 năm và hỗ trợ vốn vay ưu đãi lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để thành lập các cơ sở kinh doanh dịch vụ hộ gia đình.

Thứ tư, xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động và tư vấn quản lý tài chính. Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh Khánh Hòa định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động tại xã Diên Phú, Ninh Thủy và Vĩnh Thái; đồng thời thành lập các tổ tư vấn cộng đồng nhằm hướng dẫn người dân sử dụng nguồn tiền đền bù vào sản xuất kinh doanh bền vững, xóa bỏ triệt để hiện tượng chi tiêu lãng phí.

Thứ năm, ban hành chính sách an sinh xã hội đặc thù cho lao động trên 40 tuổi. Ủy ban nhân dân các huyện Diên Khánh, Ninh Hòa và thành phố Nha Trang quy hoạch quỹ đất nông nghiệp công nghệ cao diện tích nhỏ hoặc các mô hình kinh tế trang trại sinh thái, ưu tiên giao khoán cho nhóm lao động trung niên để đảm bảo việc làm ổn định đến tuổi nghỉ hưu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Duyên hải miền Trung. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng đề án chuyển đổi cơ cấu lao động và hoàn thiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng.

Nhóm thứ hai: Ban lãnh đạo các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, doanh nghiệp chế xuất và cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Luận văn mang lại góc nhìn chiến lược về trách nhiệm xã hội, giúp doanh nghiệp thiết kế phương án tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực bản địa ổn định và gắn bó lâu dài.

Nhóm thứ ba: Các cơ sở dạy nghề, trường cao đẳng nghề và trung tâm dịch vụ việc làm. Tài liệu là cẩm nang hữu ích để định hướng chương trình đào tạo theo sát nhu cầu của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, nâng cao tỷ lệ có việc làm sau đào tạo lên trên 80%.

Nhóm thứ tư: Giảng viên, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình thu hồi đất tại Khánh Hòa ảnh hưởng đến bao nhiêu lao động nông nghiệp? Theo quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2010 với 5 khu công nghiệp quy mô 885,82 ha và 10 cụm công nghiệp quy mô 467,1 ha, tỉnh Khánh Hòa có khoảng 29.000 lao động nông nghiệp phải chuyển đổi nghề nghiệp. Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của trên 10 lao động địa phương.

Hiện tượng chi tiêu không hợp lý tiền bồi thường đất tại Khánh Hòa diễn ra như thế nào? Thực tế điều tra tại 3 xã Diên Phú, Ninh Thủy, Vĩnh Thái cho thấy nhiều hộ dân nhận số tiền bồi thường lớn nhưng không đầu tư cho đào tạo nghề hay phát triển sản xuất kinh doanh mới. Họ dùng tiền mua sắm tài sản tiêu dùng và xây nhà, dẫn tới tình trạng cạn kiệt tài chính sau một thời gian ngắn trong khi không còn đất canh tác.

Chính sách nào hỗ trợ trực tiếp chi phí học nghề cho người bị thu hồi đất trong giai đoạn này? Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH quy định người lao động bị thu hồi đất được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn tối đa 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1.000.000 đồng/người/khóa học thông qua các cơ sở đào tạo nghề đủ điều kiện.

Đâu là rào cản lớn nhất của người lao động nông thôn khi tìm việc làm tại các khu công nghiệp? Rào cản lớn nhất nằm ở trình độ chuyên môn kỹ thuật khi hơn 80% lao động chưa qua đào tạo nghề và hạn chế về độ tuổi. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Suối Dầu hay Diên Phú ưu tiên tuyển lao động trẻ dưới 30 tuổi có kỷ luật công nghiệp, khiến nhóm lao động trên 35 tuổi rất khó tiếp cận việc làm mới.

Các khu công nghiệp tại Khánh Hòa đã đóng góp thế nào vào giải quyết việc làm? Các khu công nghiệp và cụm công nghiệp đi vào hoạt động, tiêu biểu như Khu công nghiệp Suối Dầu và Cụm công nghiệp Diên Phú, đã giải quyết việc làm cho khoảng 14.000 lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ tiếp nhận lao động trực tiếp tại các gia đình bị thu hồi đất vẫn còn thấp so với tiềm năng.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế chính trị về mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hồi đất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu việc làm.
  • Lượng hóa chính xác quy mô chuyển đổi hơn 1.350 ha đất nông nghiệp và áp lực sinh kế đè nặng lên 29.000 lao động nông thôn tại tỉnh Khánh Hòa.
  • Làm rõ các hạn chế cốt lõi trong cơ chế bồi thường bằng tiền tệ đơn thuần, dẫn tới nguy cơ thất nghiệp kéo dài và mất an ninh sinh kế của người nông dân.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn kết đào tạo nghề theo địa chỉ sử dụng, bắt buộc tỷ lệ tiếp nhận lao động tại các khu công nghiệp và cấp đất dịch vụ thương mại.
  • Định hình lộ trình thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2008-2010 nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội.

Luận văn là tài liệu khoa học nền tảng mang tính thực tiễn sâu sắc cho công tác quản lý an sinh và phát triển kinh tế vùng thu hồi đất. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và quý độc giả hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình để ứng dụng những giải pháp tối ưu vào thực tiễn địa phương.