Chương 1: Khái luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Thanh Trì, Hà Nội đến 2020 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Một số vấn đề lý luận về việc làm 1.1 Một số khái niệm liên quan * Khái niệm về lao động và lao động nông thôn - Lực lƣợng lao động: Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động Nhà kinh tế học David Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký bao gồm số người có công ăn việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội thì lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động cộng 1/2 số người lao động trên tuổi và 1/3 số người lao động dưới tuổi có khả năng lao động và nhu cầu làm việc. Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam thì lực lượng lao động là những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động. Từ những quan niệm của Thế giới và Việt Nam, tôi cho rằng: Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
- Lao động: Lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào.
Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho đời sống con người.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [18, tr. Ăng ghen viết: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người” [20, tr.641] Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội. - Lao động nông thôn: Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn Đặc điểm của lao động nông thôn: lao động nông thôn có những ưu nhược điểm sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Ưu điểm: Họ là những lao động cần cù, chịu khó, chăm chỉ làm việc góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc. - Nhược điểm: + Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp.
Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế. + Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề chuyên môn cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động. Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động.
+ Chưa phát huy được tính kỷ luật trong lao động, còn mang tính tự phát. * Khái niệm về việc làm, việc làm của lao động nông thôn Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia luôn gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm.
Việc làm, xét về mặt lý thuyết, là sự kết hợp của các yếu tố cấu thành việc làm, đó là sức lao động; đối tượng lao động; công cụ, phương tiện lao động hay tư liệu lao động; Tùy theo ngành, lĩnh vực và trình độ khoa học, công nghệ khác nhau sự kết hợp ấy sẽ có tỷ lệ tương ứng khác nhau. Quan niệm hiện đại ngày nay về từng yếu tố hợp thành việc làm cũng đã thay đổi khá lớn. Sức lao động nếu chỉ coi là năng lực cơ học, sức lực hoạt động của con người thì ít thay đổi. Nhưng sức lao động, tiếp cận theo năng lực, trình độ tri thức, kiến thức lại có thay đổi vô cùng to lớn.
Do đó, ngày nay có quan niệm lao động thông tin và lao động phi thông tin, một tiếp cận phân loại lao động hiện đại, đòi hỏi phải có sức lao động theo quan niệm mới, hiện đại; Đối tượng lao động và công cụ, phương tiện lao động là hai loại yếu tố có thay đổi to lớn. Đó không chỉ là đất đai, tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm hữu hình, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không chỉ là thiết bị, máy móc với công nghệ nhất định, mà còn là thông tin, tri thức, dịch vụ. với không gian mang tính toàn cầu, với thiết bị máy móc, công nghệ siêu hiện đại. Những thay đổi đó đưa đến những quan niệm mới về các loại việc làm: có việc làm truyền thống, giản đơn, quen thuộc.; có việc làm mới, phức tạp, trình độ; có việc làm ở trung tâm đô thị hiện đại, ở nông thôn; có việc làm với máy móc hiện đại, có việc làm bằng lao động thủ công; Ở Việt Nam, trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội chấp nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà nước và kinh tế tập thể.
Trong cơ chế đó, Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động. Do đó, trong xã hội không thừa nhận có hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động dôi dư, việc làm không đầy đủ. Ngày nay, người lao động có quyền làm việc cho bất cứ người sử dụng lao động nào mà pháp luật không ngăn cấm. Điều 9 chương II Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan niệm rằng: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm" [27, tr.
tôi cho rằng đây là một khái niệm phù hợp, bởi vì, theo quan điểm này, việc làm là các hoạt động lao động được thể hiện ở các dạng sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho công việc đó. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên sở hữu, quản lý hoặc có quyền sử dụng, hoặc các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hay một phần. - Làm các công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong chủ hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo các quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình.
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm, điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm, quan niệm đó góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước. Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm. Như vậy, có thể hiểu việc làm của người lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà pháp luật không ngăn cấm.