Tổng quan nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ tốc độ đô thị hóa, kéo theo việc chuyển đổi hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp sang mục đích phát triển hạ tầng, công nghiệp và khu đô thị. Kể từ khi thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003, quận Long Biên thuộc thành phố Hà Nội đã trở thành một trong những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất Thủ đô. Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp với quy mô lớn đã tước đi tư liệu sản xuất căn bản của hàng vạn hộ gia đình nông dân, đẩy nhiều lao động vào tình trạng bị động trước nguy cơ rơi vào hội chứng "ba không": không đất sản xuất, không nghề nghiệp ổn định và không thu nhập bền vững.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán việc làm và bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất tại quận Long Biên. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thu hồi đất cùng chuyển dịch việc làm giai đoạn 2011 - 2015, từ đó đề xuất các giải pháp kinh tế - chính trị mang tính khả thi nhằm ổn định đời sống nhân dân. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào ba phường có tốc độ chuyển đổi đất lớn nhất là Phúc Lợi, Việt Hưng và Giang Biên. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau thu hồi đất lên trên 85% và bảo đảm thu nhập bền vững cho hơn 10.000 hộ dân vùng ven đô.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn tiếp cận vấn đề việc làm dưới góc độ kinh tế chính trị học Mác - Lênin kết hợp các lý thuyết kinh tế hiện đại. Cơ sở cốt lõi là lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa sức lao động và tư liệu sản xuất. Việc làm được xác định là trạng thái kết hợp hài hòa, phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nhằm tạo ra của cải, dịch vụ hợp pháp phục vụ đời sống. Khi quá trình thu hồi đất diễn ra, mối liên kết tự nhiên giữa nông dân và đất đai bị đứt gãy, buộc sức lao động phải tìm kiếm tư liệu sản xuất mới thông qua quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng định nghĩa việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ban hành năm 1983 tại Hội nghị Thống kê Lao động quốc tế lần thứ 13, cùng khung khổ pháp lý tại Bộ luật Lao động năm 2012 (Luật số 10/2012/QH13) và Luật Đất đai năm 2003. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm:
- Việc làm chính thức và việc làm phi chính thức: Phân định mức độ bảo đảm pháp lý, hợp đồng lao động và tính ổn định của thu nhập.
- Việc làm bền vững: Cơ hội làm việc hiệu quả, có thu nhập công bằng, an toàn lao động và bảo đảm an sinh xã hội lâu dài.
- Thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi sinh kế: Quy trình pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất nông nghiệp gắn với sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực thuần nông sang công nghiệp và dịch vụ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa giai đoạn 2011 - 2015. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thống kê đất đai, niên giám thống kê và báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân quận Long Biên. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế.
Quy mô mẫu khảo sát được xác lập là 180 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng đồng đều tại ba địa bàn trọng điểm: 60 hộ tại phường Phúc Lợi, 60 hộ tại phường Việt Hưng và 60 hộ tại phường Giang Biên. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng đảm bảo tính đại diện cao, bao quát cả nhóm hộ mất toàn bộ đất sản xuất và nhóm hộ mất một phần diện tích đất.
Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu trước - sau thu hồi đất, kết hợp phương pháp logic và lịch sử. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm định lượng chính xác sự biến động về cơ cấu ngành nghề, mức thu nhập bình quân và đánh giá khách quan hiệu quả của các chính sách hỗ trợ học nghề, xuất khẩu lao động tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích dữ liệu thực tế tại quận Long Biên giai đoạn 2011 - 2015 đã chỉ ra bốn phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đột ngột đã làm thay đổi căn bản cơ cấu lao động. Trước khi bị thu hồi đất, tỷ lệ lao động làm nông nghiệp thuần túy chiếm khoảng 68,5%, nhưng sau khi triển khai các dự án hạ tầng và đô thị, con số này giảm mạnh xuống chỉ còn 12,4%.
Thứ hai, xu hướng chuyển dịch việc làm sang khu vực phi nông nghiệp diễn ra tự phát và thiếu tính bền vững. Tỷ lệ lao động chuyển sang khu vực kinh tế phi chính thức (lao động tự do, buôn bán nhỏ, thợ hồ, xe ôm) tăng vọt lên mức 43,8%. Trong khi đó, tỷ lệ lao động được tuyển dụng chính thức vào các doanh nghiệp công nghiệp hoặc tổ chức dịch vụ chỉ đạt khoảng 18,2%.
Thứ ba, hiệu quả sử dụng nguồn tiền bồi thường đất chưa đạt mục tiêu an sinh dài hạn. Khoảng 62,5% số hộ dân được khảo sát sử dụng tiền đền bù vào việc xây dựng, sửa chữa nhà ở và mua sắm tiện nghi sinh hoạt ngắn hạn; 23,2% gửi tiết kiệm ngân hàng và chỉ có 14,3% số hộ sử dụng nguồn vốn này để đầu tư cho học nghề chuyên sâu hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, các kênh hỗ trợ việc làm chính thống đạt tỷ lệ kết nối khiêm tốn. Trong giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ lao động bị thu hồi đất tìm được việc làm qua các phiên giao dịch việc làm của quận chỉ đạt khoảng 21,6% trên tổng số hồ sơ đăng ký. Chương trình xuất khẩu lao động và các lớp dạy nghề truyền thống chỉ giải quyết được khoảng 8,5% nhu cầu việc làm mới của người dân.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ sự mất cân đối giữa trình độ người lao động và yêu cầu của thị trường lao động đô thị. Hơn 70% lao động bị thu hồi đất tại ba phường khảo sát chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, chủ yếu sở hữu kỹ năng canh tác truyền thống. Khi đối mặt với môi trường sản xuất công nghiệp, nhóm lao động ở độ tuổi từ 35 đến 50 gặp rào cản lớn về khả năng thích ứng và năng suất lao động.
Kết quả này tương đồng với các báo cáo thực nghiệm của Ngân hàng Thế giới và nhiều công trình nghiên cứu tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, khẳng định khoảng trống lớn trong chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế hậu thu hồi đất. Đa số các gói bồi thường tập trung vào giải quyết quyền lợi tài chính một lần mà thiếu chiến lược đào tạo nghề dài hạn.
Trong thực tế phân tích dữ liệu, các phát hiện này được minh chứng rõ nét qua hai công cụ biểu diễn:
- Biểu đồ cơ cấu chuyển dịch lao động: Mô tả sự sụt giảm của khối nông nghiệp từ 68,5% xuống 12,4% và sự phình to của khu vực phi chính thức lên 43,8% (tương tự định dạng Biểu đồ 3.2 trong luận văn).
- Bảng đối sánh thu nhập và cơ cấu sử dụng tiền bồi thường: Trình bày chi tiết mức thu nhập bình quân/hộ/năm theo từng nhóm hộ trước và sau thu hồi đất, làm nổi bật tỷ trọng 62,5% nguồn lực tài chính bị tiêu dùng hóa thay vì tái sinh lợi (tương tự Bảng 3.10 trong luận văn).
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết triệt để bài toán việc làm cho người lao động mất đất nông nghiệp tại quận Long Biên, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp có tính hành động cao:
- Tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp: Đổi mới toàn diện nội dung dạy nghề, chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng sang đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp trên địa bàn quận Long Biên. Phấn đấu đạt chỉ tiêu tối thiểu 75% lao động nông nghiệp sau khi hoàn thành các khóa đào tạo nghề ngắn hạn (3-6 tháng) có việc làm ổn định trong vòng 6 tháng. Đơn vị chủ trì thực hiện là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận phối hợp cùng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
- Mở rộng gói tín dụng ưu đãi và tư vấn khởi sự kinh doanh: Thành lập quỹ ủy thác hỗ trợ chuyển đổi nghề với mục tiêu giải ngân vốn vay ưu đãi cho 100% hộ dân có phương án sản xuất kinh doanh khả thi trong lộ trình giai đoạn 2016 - 2020. Cơ quan thực hiện là Ngân hàng Chính sách Xã hội quận Long Biên phối hợp với Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương.
- Nâng cao hiệu quả hệ thống sàn giao dịch và tư vấn việc làm vệ tinh: Tăng tần suất tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động lên 4 phiên/năm tại các cụm phường trọng điểm Phúc Lợi, Việt Hưng, Giang Biên. Mục tiêu nâng tỷ lệ kết nối tuyển dụng thành công lên trên 40% mỗi phiên. Đơn vị chủ trì là Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hà Nội phối hợp với Ủy ban nhân dân các phường.
- Hoàn thiện cơ chế ràng buộc trách nhiệm an sinh xã hội của chủ đầu tư dự án: Quy định bắt buộc các doanh nghiệp tiếp nhận đất thu hồi phải trích tối thiểu 10-15% kinh phí hỗ trợ việc làm để đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc ưu tiên tuyển dụng tối thiểu 30% lao động địa phương từ 40 tuổi trở lên vào các vị trí phù hợp. Chủ thể ban hành và giám sát là Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Hội đồng nhân dân quận Long Biên.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp khung luận cứ thực chứng để Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện vùng ven đô xây dựng chính sách bồi thường, tái định cư và quy hoạch đào tạo nghề đồng bộ khi triển khai các dự án thu hồi đất đô thị hóa.
- Chuyên gia, giảng viên và học viên cao học: Phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Xã hội học; kế thừa hệ thống khung lý thuyết và bộ công cụ khảo sát thực địa 180 mẫu dữ liệu.
- Doanh nghiệp và chủ đầu tư dự án đô thị, công nghiệp: Hỗ trợ xây dựng chiến lược tuyển dụng lao động địa phương và thiết kế các chương trình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) gắn liền với hỗ trợ sinh kế bền vững cho người dân mất đất.
- Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở: Giúp Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên và Hội Phụ nữ cấp phường nắm bắt tâm lý hội viên, từ đó triển khai hiệu quả các mô hình tổ hợp tác kinh doanh và câu lạc bộ quản lý tài chính hộ gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại quận Long Biên gặp nhiều khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp?
Nguyên nhân chủ yếu do hơn 70% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật và phần lớn nằm trong độ tuổi từ 35 đến 50 tuổi. Nhóm đối tượng này rất khó đáp ứng các tiêu chuẩn tuyển dụng khắt khe của doanh nghiệp công nghiệp hiện đại, dẫn đến việc họ phải dồn vào khu vực kinh tế phi chính thức với thu nhập thiếu ổn định.
Người dân bị thu hồi đất tại quận Long Biên đã sử dụng tiền bồi thường như thế nào?
Kết quả khảo sát thực tế chỉ ra rằng 62,5% số hộ sử dụng tiền bồi thường vào việc xây nhà và mua sắm tiêu dùng; 23,2% gửi tiết kiệm và chỉ 14,3% đầu tư cho sản xuất kinh doanh hoặc học nghề. Việc tiêu dùng phần lớn tiền mặt một lần khiến nhiều gia đình nhanh chóng mất nguồn tài chính dự phòng khi tiền đền bù cạn kiệt.
Mô hình đào tạo nghề nào đem lại hiệu quả chuyển đổi sinh kế cao nhất cho nông dân mất đất?
Mô hình đào tạo ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng gắn liền với cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp đóng trên địa bàn mang lại hiệu quả cao nhất. Các ngành nghề dịch vụ đô thị, sửa chữa máy móc, nấu ăn và bán hàng giúp nâng tỷ lệ có việc làm sau đào tạo lên trên 65%, cao hơn nhiều so với việc dạy nghề đại trà không theo nhu cầu.
Luật Đất đai và chính sách giải quyết việc làm cần bổ sung quy định gì để bảo vệ nông dân?
Cần bổ sung quy định trích lập quỹ an sinh xã hội dài hạn từ 10% đến 15% tổng mức đầu tư dự án để mua bảo hiểm xã hội tự nguyện cho lao động trên 45 tuổi. Đồng thời, cần chuyển đổi hình thức chi trả tiền mặt một lần sang cơ chế kết hợp hỗ trợ đất dịch vụ thương mại hoặc gói sinh kế tạo dòng tiền định kỳ.
Hiệu quả kết nối của các phiên giao dịch việc làm quận Long Biên giai đoạn 2011 - 2015 đạt mức độ nào?
Trong giai đoạn nghiên cứu, các phiên giao dịch việc làm đã tiếp cận hơn 1.200 lượt lao động nhưng tỷ lệ tuyển dụng thành công chỉ đạt khoảng 21,6%. Hạn chế này xuất phát từ việc thiếu thông tin định hướng chuyên sâu và sự lệch pha giữa yêu cầu kỹ năng của nhà tuyển dụng với trình độ của nông dân mất đất.
Kết luận
- Quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại quận Long Biên giai đoạn 2011 - 2015 đã tạo sự thay đổi vượt bậc về hạ tầng nhưng làm giảm tỷ lệ lao động thuần nông từ 68,5% xuống 12,4%, gây áp lực gay gắt lên vấn đề an sinh xã hội.
- Khoảng 43,8% lao động sau thu hồi đất buộc phải chuyển sang các công việc phi chính thức bấp bênh do hạn chế về học vấn và kỹ năng nghề nghiệp với hơn 70% chưa qua đào tạo.
- Nguồn tiền đền bù đất chưa phát huy tối đa vai trò tái tạo sinh kế khi có tới 62,5% tổng nguồn lực bị tiêu dùng hóa vào việc xây dựng nhà ở và mua sắm ngắn hạn.
- Hệ thống giải pháp đồng bộ gồm đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, cung ứng vốn tín dụng ưu đãi, nâng cao chất lượng sàn giao dịch và bắt buộc trách nhiệm doanh nghiệp là chìa khóa bảo đảm việc làm bền vững.
- Luận văn đã đóng góp hệ thống tư liệu thực chứng và cơ sở lý luận kinh tế chính trị quan trọng, mở ra hướng ứng dụng thực tiễn cho công tác quản trị đô thị ven đô tại Hà Nội trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần khẩn trương hoàn thiện cơ chế điều tra sinh kế định kỳ trong lộ trình 2016 - 2020 để liên tục cập nhật chính sách an sinh. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực kinh tế phát triển, quản lý đất đai và an sinh xã hội hãy khai thác toàn văn công trình để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý địa phương.