CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN 1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn 1. Quan niệm về quyền nuôi con QNC được xác định là phức tạp bởi thực tế luật về quyền giám hộ khác nhau giữa các quốc gia hay tại các vùng của một quốc gia.
Hệ thống pháp luật đưa ra quyết định về QNC sẽ có lợi cho trẻ em và công bằng với cha mẹ. Ngoài ra, quy định pháp luật cho rằng QNC nên được trao cho cha hoặc mẹ đã dần được thay thế bằng việc xác định tiêu chuẩn ít rõ ràng hơn để ra quyết định về QNC3. Cha mẹ kết hôn thường có QNC hợp pháp đối với con cái họ. Các quyết định liên quan đến QNC thường hay phát sinh trong một số thủ tục tố tụng có liên quan đến ly thân, ly hôn, nhận con nuôi hoặc khi cha mẹ mất.
Trong hầu hết các quy định pháp lý, QNC được xác định theo lợi ích tốt nhất dành cho người con4. Theo cách hiểu khác, QNC là quyết định của TA về việc cha hoặc mẹ sẽ có quyền chăm sóc, giám hộ và kiểm soát đứa trẻ. QNC có thể được giao cho một trong số phụ huynh hoặc cho cả cha và mẹ5. Fuhrmann và Robert A.
Zibbell (2012) phân loại quyền giám hộ hợp pháp bao gồm: (i) QNC hợp pháp: cả cha lẫn mẹ đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra những quyết định quan trọng về con mình; (ii) QNC hợp pháp duy nhất: chỉ một trong số phụ huynh có quyền đưa ra những quyết định quan trọng về đứa trẻ. Kelly (1994), The Determination of Child Custody, The Future of Children, Vol. 1, Children and Divorce, pp.2307/1602481 4 UNHCR (2008), UNHCR Guidelines on Determining the Best Interests of the Child, Switzerland. 5 Legal Dictionary (2015), https://legaldictionary.net/child-custody/, truy cập ngày 05/01/2022.
13 QNC được hiểu là quyền của cha mẹ trong việc sống chung với con cũng phân thành (i) QNC chung: đứa trẻ dành khoảng thời gian đáng kể sống với cha và mẹ và (ii) QNC duy nhất: đứa trẻ sống chủ yếu với một bên cha hoặc mẹ và có thể có thời gian được nuôi dạy bởi người còn lại6. Tại Việt Nam, QNC được hiểu khá rộng khi cha mẹ thường gắn trách nhiệm của mình trong mọi mặt của người con. Họ thường có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong nuôi con; họ sẽ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành7. Vì vậy, việc đảm bảo đối với quyền lợi của trẻ em về nuôi dưỡng là bất di bất dịch.
Nhìn chung, vai trò của cả hai bên cha mẹ đều được công nhận và coi là quan trọng trong việc chăm sóc con cái. Tuy nhiên, khi cha mẹ không thể tiếp tục đồng thời thực hiện QNC do phát sinh một quan hệ pháp luật mới như ly hôn, QNC sẽ chuyển giao cho một trong hai bên. Quan niệm về QNC có xu hướng phụ thuộc nhiều vào xem xét điều kiện, tức là người có điều kiện tốt hơn hoặc có vai trò lớn hơn trong việc chăm sóc và giáo dục con cái sẽ được nhận QNC. Trách nhiệm nuôi dưỡng con sau khi ly hôn được xem xét theo nguyên tắc lợi ích của trẻ ưu tiên hàng đầu.
Đồng thời, các nhân tố như thu nhập, điều kiện sống và khả năng chăm sóc cũng được đặt ra trong việc quyết định ai sẽ có QNC. Việc tạo điều kiện cho việc tiếp xúc với cả hai phụ huynh, đồng thời tôn trọng và hợp tác giữa cả hai phía, có thể được coi là yếu tố quan trọng. Đôi khi QNC sau khi ly hôn thường thuộc về người mẹ. Điều này phản ánh sự tôn trọng và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong việc chăm lo cho con cái.
Hiện nay, trong quy định của các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định nào về khái niệm “QNC khi ly hôn”. Tuy nhiên hàm ý “QNC khi ly hôn” có thể hiểu là các chủ thể trong quan hệ hôn nhân trong việc (người vợ hoặc người chồng sau khi đã có bản án, quyết định ly hôn của TA) vẫn thể hiện vai trò của mình đối với 6 Geri S. Zibbell (2012), Evaluation for Child Custody, Oxford University Press. 7 Khoản 1 Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2014 14 việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con cái.
Thông thường, khi chia tay, vợ chồng sẽ cùng nhau thỏa thuận xem ai sẽ là người được TTNC, tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người cha, người mẹ đối với con. Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn - Quan niệm về NTTNC Sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân, hai vợ chồng thường sẽ ly tán, không tiếp tục sống cùng nhau, do đó con chung cũng sẽ có sự chia cắt và chỉ còn được sống chung với cha hoặc mẹ. Như vậy, người nào dành ra phần lớn thời gian chịu trách nhiệm sống chung để chăm lo cho con được xem là NTTNC, và ngược lại. - Thời điểm xác định trở thành NTTNC Khi cha mẹ có bản án, quyết định của TA công nhận về việc ly hôn giữa hai người.
Người nào tiếp tục giữ trách nhiệm nuôi con theo thỏa thuận giữa hai vợ chồng hoặc theo phán quyết của TA sẽ trở thành NTTNC. - Chủ thể được giao TTNC Sau khi ly hôn, theo tinh thần của Luật HN&GĐ cùng Bộ luật DS (BLDS) và các luật khác có liên quan, đặc biệt là đối với con chưa tự nuôi được bản thân mình như con chưa TN hay con đã TN nhưng mất năng lực hành vi dân sự (DS) hoặc người con không có khả năng lao động,… cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ nuôi dạy con của mình8. Như vậy, cha hoặc mẹ sẽ được ưu tiên thực hiện quyền, một trong hai bên sẽ trở thành NTTNC sau ly hôn thông qua thỏa thuận. “Nếu cha mẹ không thể tự thỏa thuận NTTNC mà phải nhờ đến TA”9, thì khi xác định NTTNC, TA phải căn cứ vào quyền lợi của những đứa trẻ mà không dựa trên những toan tính hay quyền lợi của cha mẹ chúng.
Ngoài ra, “nếu xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện TTNC thì TA sẽ ra quyết định giao con cho người giám hộ (NGH) theo quy định của BLDS”10. 8 Khoản 1 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 9 Khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 10 Khoản 4 Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014 15 - Lý do phải xác định NTTNC Cha mẹ ly hôn dẫn đến gia đình tan vỡ, con chung là người trực tiếp chịu thiệt thòi và bị tác động về nhiều mặt như tâm lý, nhận thức, tình cảm cùng nhiều yếu tố khác trong đời sống của trẻ. Do vậy, việc xác định ai là NTTNC sau khi ly hôn là bước đầu tiên nhằm đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích chính đáng cho người con. Giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục là việc làm vô cùng quan trọng, đôi khi mang tính quyết định đối cuộc sống trong tương lai của người con.
Bởi NTTNC sống chung với trẻ, ảnh hưởng nhiều mặt đến tính tình, trí tuệ và sự phát triển thể chất của người con. Một khi có sai sót trong quyết định giao con cho người không có năng lực, không đủ điểu kiện phù hợp để nuôi dưỡng, giáo dục con có thể dẫn đến những hệ quả không mong muốn và các tranh chấp pháp lý liên quan về sau. Vì vậy, trong những nội dung để có thể bảo vệ được quyền lợi của người con sau khi cha mẹ đã ly hôn chính là việc xác định ai là NTTNC trở nên khá quan trọng11. - Quyền, nghĩa vụ của NTTNC Như đã đề cập ở trên, sau khi ly hôn, người được giao TTNC vẫn giữ nguyên đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các bậc cha mẹ đối với con.
Có thể kể đến như chăm sóc nuôi dưỡng con cái đến khi trưởng thành, chịu trách nhiệm dạy dỗ con, là đại diện cho con theo luật định hay quản lý tài sản cho con,… Ngoài ra, khác với đời sống của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, NTTNC chỉ còn lại 1 bên. Vì vậy, người được giao TTNC có quyền yêu cầu bên còn lại thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo luật định và cùng các thành viên khác trong gia đình họ tôn trọng, công nhận quyền được nuôi con của mình. Đồng thời NTTNC cùng các thành viên khác không được cản trở, từ chối NKTTNC thực hiện quyền thăm nom, cấp dưỡng đối với con chung. Nếu người được giao quyền TTNC có hành vi cản trở sẽ bị 11 Bắc Trần (2023), Quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con sau ly hôn – Quy định và thực tiễn, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, Truy cập từ Quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con sau ly hôn – Quy định và thực tiễn (tapchitoaan.
16 xử phạt theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp người KTTNC bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của TA12. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn - Quan niệm về thay đổi NTTNC Theo Từ điển tiếng Việt, thay đổi có nghĩa là “thay cái này bằng cái khác”. Ở một khía cạnh khác, thay đổi còn có thể được hiểu là “làm cho nó trở nên khác trước, theo hướng tốt hơn”13. Thay đổi trong các trường hợp liên quan đến pháp lý phải là thay đổi thật sự, thay cái cũ, bằng cái mới, tốt hơn, mang lại kết quả tốt hơn.
Sau ly hôn, nếu NTTNC theo quyết định hoặc bản án của TA không còn khả năng chăm lo con đến khi trưởng thành thì có thể yêu cầu thay đổi. Việc tranh chấp này là nhằm xác định lại xem bên nào trong quan hệ HN&GĐ trước đó có quyền TTNC. Hay có thể hiểu là sự chuyển đổi vai trò giữa cha và mẹ đối với thỏa thuận hoặc phán quyết trước đó của TA về quyền TTNC. - Mục đích thay đổi NTTNC Việc thay đổi NTTNC sau khi ly hôn là biện pháp hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của con trên thực tế do TA quyết định nhằm xác định lại người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; để bảo đảm các quyền cơ bản của con không bị xâm phạm, hạn chế hoặc ảnh hưởng do người đang TTNC gây ra.