Chương 1. Những vấn đề cơ bản về hợp đồng tín dụng và thế chấp bảo hợp đồng tín dụng. Chương 2: Các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản. Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ THẾ CHẤP BẢO ĐẢM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm hợp đồng tín dụng Tín dụng là hoạt động quan trọng và đặc trƣng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tín dụng khác. Tín dụng cũng là hoạt động mang tính rủi ro rất cao.
Vì vậy, chất lƣợng hoạt động tín dụng mang ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế.Pascốpxki trong bài giảng "Tín dụng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội" tại Trƣờng Quản lý Kinh tế Trung ƣơng thì từ tín dụng (Credit) theo tiếng Nga cũng nhƣ tiếng các nƣớc Châu Âu khác, xuất phát từ gốc chữ La tinh Creditum có nghĩa là tin. Ở đây lòng tin đòi hỏi không những ở ngƣời cho vay, mà còn ở cả ngƣời vay. Ngƣời cho vay tin tƣởng vào khả năng thanh toán của ngƣời vay, còn ngƣời vay thì tin tƣởng vào khả năng thanh toán của mình [28, tr. James Marres trong cuốn "Môi trƣờng pháp luật cho kinh doanh" thì thuật ngữ tín dụng có rất nhiều nghĩa.
Thuật ngữ này thƣờng đƣợc dùng để chỉ các giao dịch trong đó hàng hóa đƣợc bán, dịch vụ đƣợc cung ứng hoặc tiền đƣợc cho vay để đổi lấy lời hứa về hoàn trả trong tƣơng lai [52, tr. Nhiều tài liệu nghiên cứu khác cũng có chung nhận định này [4, tr. Tín dụng phát sinh hầu nhƣ đồng thời với tiền tệ. Chức năng cơ bản của tín dụng là phân phối vốn giữa những ngƣời có cung - cầu vốn theo nguyên tắc hoàn trả.
Về bản chất kinh tế, tín dụng là quan hệ phân phối lại của cải theo nguyên tắc hoàn trả và có lợi tức. Tính có hoàn là cơ sở để phân biệt tín dụng với các phƣơng thức phân phối của cải khác trong xã hội. Về bản chất pháp lý, tín dụng là giao dịch tài sản (tiền, hàng hóa) giữa bên cung ứng tín dụng và bên nhận tín dụng. Trong đó, bên cung ứng tín dụng chuyển giao tài sản cho bên nhận cung ứng tín dụng sử dụng trong khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận trên cơ sở hoàn trả vốn gốc và lãi.
Trong đời sống xã hội, tín dụng do nhiều loại chủ thể thực hiện. Tùy thuộc vào chủ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể cung ứng tín dụng mà tín dụng có thể phân chia thành các loại nhƣ: Tín dụng nhà nƣớc, tín dụng hợp tác, tín dụng quốc tế, tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân. Với tƣ cách là ngƣời đi vay, ngân hàng và các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội; với tƣ cách là ngƣời cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân.
Trong nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lƣu động và vốn cố định của các doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội và nền kinh tế phát triển. Tín dụng ngân hàng đƣợc đặc trƣng bởi tính chuyên nghiệp của các hoạt động tín dụng do các tổ chức kinh doanh tiền tệ thực hiện. Các tổ chức này gọi là tổ chức tín dụng. Tổ chức cung ứng tín dụng chủ yếu là các ngân hàng nên hoạt động tín dụng này đƣợc gọi là tín dụng ngân hàng [49, tr.
Ngoài các tổ chức tín dụng cung ứng tín dụng là các ngân hàng, một số loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ khác cũng có cung ứng tín dụng nhƣ ngân hàng nên hoạt động cung ứng tín dụng của loại doanh nghiệp này cũng gọi là tín dụng ngân hàng. Do đó, về phƣơng diện pháp lý không có sự phân biệt hoạt động cung ứng tín dụng của hai loại chủ thể này trong áp dụng pháp luật ngân hàng. Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 cũng nhƣ năm 2010 và các quy định trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam về tín dụng ngân hàng không đƣa ra khái niệm pháp lý về hợp đồng tín dụng. Điều 51, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 quy định: Việc cho vay phải đƣợc lập thành hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, giá trị tài sản bảo đảm, phƣơng thức trả nợ và những cam kết khác đƣợc các bên thỏa thuận. [20, điều 51] Còn trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định tổ chức tín dụng cấp tín dụng dƣới hình thức sau đây: Cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nƣớc; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng đƣợc phép thực hiện thanh toán quốc tế; các hình thức cấp tín dụng khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Điều 98] 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong các tài liệu nghiên cứu, vấn đề tìm một định nghĩa chuẩn cho hợp đồng tín dụng cũng ít đƣợc các nhà khoa học quan tâm. Trong cuốn "Từ điển thuật ngữ Tài chính tín dụng" của Viện Khoa học Tài chính, Bộ Tài chính có nêu: "Hợp đồng tín dụng là văn bản ghi nhận những cam kết giữa ngƣời cho vay và ngƣời vay về những điều kiện của tín dụng nhƣ số tiền vay, phƣơng thức cấp vốn vay, thời hạn vay, phƣơng thức thu nợ, mức lãi suất, loại hình lãi suất, phƣơng thức thu lãi".
163] Về cơ bản, định nghĩa này có nội dung tƣơng tự nhƣ định nghĩa trong các văn bản pháp luật, chỉ nêu ra các yêu cầu về nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng. Trong cuốn "Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam", tác giả Nguyễn Tuyến đƣa ra định nghĩa: Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó, tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trƣớc một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm [27, tr. Định nghĩa này đã đề cập đƣợc các dấu hiệu cơ bản của hợp đồng tín dụng ngân hàng trên các phƣơng diện: chủ thể (bên cho vay là tổ chức tín dụng, bên vay là tổ chức, cá nhân) đối tƣợng của hợp đồng (tiền), nguyên tắc cơ bản của quan hệ hợp đồng (điều kiện hoàn trả tiền vay). Tuy nhiên, nếu quan niệm quan hệ chuyển giao vốn theo hợp đồng chỉ là ứng trƣớc một số tiền sẽ không phản ánh đầy đủ tính pháp lý của quan hệ vay vốn là bên cho vay chuyển giao quyền sở hữu vốn vay cho bên vay hay chỉ là chuyển giao quyền sử dụng.
Để làm rõ những dấu hiệu của hợp đồng tín dụng cần thiết phải làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến đặc điểm của nó. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng Khi so sánh hợp đồng thông thƣờng với một hợp đồng tín dụng ta thấy hợp đồng tín dụng có đặc điểm khác biệt so với các hợp đồng thông thƣờng sau: Thứ nhất: Một bên chủ thể của hợp đồng tín dụng luôn là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoạt động cho vay phải hội đủ các điều kiện về thành lập, vốn pháp định, có điều lệ đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chuẩn y và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có đại diện hợp pháp khi tham gia ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật. Những điều kiện trên đây không những góp phần hạn chế, loại trừ những tổ chức không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên thị trƣờng tài chính mà còn góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng.
Ngoài ra, khi các tổ chức tín dụng hội đủ các điều kiện trên sẽ góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ, là căn cứ để các thẩm phán, các trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng. Để thực hiện hoạt động cho vay, tổ chức tín dụng phải tiến hành ký kết hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Trong hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng luôn tham gia ký kết với tƣ cách là chủ thể cho vay nhằm phân phối lại nguồn vốn đã huy động từ tổ chức và cá nhân khác trong xã hội. Với tƣ cách là chủ thể cho vay, tổ chức tín dụng (mà đa phần là các ngân hàng) phải thẩm định đƣợc phƣơng án vay vốn, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay.
Điều này là vô cùng cần thiết vì nó có khả nẳng hoàn trả nợ vay của bên đi vay. Các ngân hàng tham gia vào quan hệ tín dụng chủ yếu để thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và mục tiêu lợi nhuận, trừ trƣờng hợp các ngân hàng chính sách thực hiện hoạt động tín dụng vì mục đích xã hội là chính. Thứ hai: Hợp đồng tín dụng phải luôn đƣợc ký kết dƣới hình thức văn bản. Đặc trƣng cơ bản của hoạt động tín dụng là: Đi vay để cho vay, vì vậy để cho vay lại của tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn tín dụng của mình.
Để thực hiện điều này thì quyền và nghĩa vụ của các bên (bên cho vay và bên đi vay) phải cụ thể. Pháp luật quy định các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tín dụng phải thỏa thuận bằng văn bản các quyền và nghĩa vụ của mình. Thực ra quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên. Bởi vì hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh các chấp của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.