Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời làm gia tăng các xung đột lợi ích xã hội. Thực tiễn quản lý cho thấy các tranh chấp, khiếu kiện hành chính phát sinh ngày càng phức tạp, gay gắt, đặc biệt là trong công tác quản lý đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng và bảo vệ môi trường. Giai đoạn 2020 - 2023, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 cũng đã tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội, gây gián đoạn nhất định tới hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

Để hiện thực hóa bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, công tác khiếu nại và giải quyết khiếu nại giữ vị trí then chốt, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận và bảo vệ. Đồng thời, đây là kênh giám sát trực tiếp của nhân dân đối với hoạt động công quyền thông qua việc xem xét lại các quyết định hành chính (QĐHC) hoặc hành vi hành chính (HVHC). Thanh tra Chính phủ (TTCP) là cơ quan quản lý nhà nước giữ nhiệm vụ chính trị trọng yếu trong công tác giải quyết khiếu nại trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thời gian qua, cơ quan này phải tiếp nhận nhiều đoàn khiếu nại đông người, vượt cấp với diễn biến phức tạp, xuất phát một phần từ những thiếu sót, vi phạm trong thực thi công vụ và quản lý nhà nước ở cơ sở. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Đào Chí Đạt đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại tại Thanh tra Chính phủ giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023; chỉ ra ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm.
  3. Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm, nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ.
  • Phạm vi nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính.
  • Phạm vi không gian: Hoạt động khiếu nại hành chính tại cơ quan Thanh tra Chính phủ.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập số liệu và nghiên cứu thực tiễn từ năm 2021 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Về mặt lý thuyết và khái niệm, tác giả phân tích ngữ nghĩa Hán - Việt ("khiếu" là kêu gọi; "nại" là nhẫn nại, chịu đựng bất công), đối chiếu định nghĩa từ điển học và quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011 để làm rõ bản chất mối quan hệ giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại trong quản trị hành chính công.

Khung pháp lý tác giả sử dụng làm căn cứ nghiên cứu bao gồm:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
  • Luật Khiếu nại năm 2011 (Luật số 02/2011/QH13);
  • Luật Tiếp công dân năm 2013;
  • Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
  • Nghị định số 81/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ;
  • Nghị định số 124/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại;
  • Quyết định số 416/QĐ-TTCP về Quy chế làm việc của Thanh tra Chính phủ;
  • Quyết định số 444/QĐ-TTCP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Trường Cán bộ Thanh tra;
  • Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  • Phương pháp phân tích: Tiếp cận, mổ xẻ thực tiễn hoạt động tiếp nhận, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ để chỉ ra các điểm nghẽn nghiệp vụ và pháp lý.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp các báo cáo công tác năm của Thanh tra Chính phủ, hệ thống văn bản pháp luật, và các công trình nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài (như luận văn của Phương Trung Kiên năm 2017, Hoàng Thùy Linh năm 2022, Nguyễn Thị Thúy Hồng năm 2010, Nguyễn Hoài Thoa, Lê Tiểu Vy, Nguyễn Thị Minh Hà năm 2002, Nguyễn Tiến Dũng năm 2011, và bài viết của Nguyễn Anh Tuấn năm 2023 trên Tạp chí Cộng sản).
  • Phương pháp quan sát: Ghi nhận thực tế các hành vi, ứng xử, thái độ và quy trình giải quyết vụ việc giữa cán bộ thanh tra và công dân khiếu nại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ

Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận về khiếu nại hành chính và thẩm quyền, quy trình của cơ quan Thanh tra Chính phủ:

  • Khái niệm và đặc điểm: Khiếu nại khởi nguồn từ sự bất đồng về lợi ích giữa một bên là cơ quan công quyền và một bên là cá nhân, tổ chức. Chủ thể tham gia khiếu nại có các quyền theo Điều 12 Luật Khiếu nại 2011 (tự khiếu nại hoặc qua đại diện, nhờ luật sư hỗ trợ pháp lý, tham gia đối thoại, tiếp cận chứng cứ, rút khiếu nại, khởi kiện ra Tòa án...). Người giải quyết khiếu nại có nghĩa vụ tiếp nhận, đối thoại, ban hành quyết định đúng thời hạn và chịu trách nhiệm pháp lý.
  • Đặc trưng giải quyết khiếu nại tại Thanh tra Chính phủ: Thủ trưởng cơ quan hoặc người được phân công trực tiếp giải quyết; đối tượng là các quyền hiến định; trình tự tuân thủ chặt chẽ thủ tục hành chính; kết quả giải quyết bắt buộc phải thể hiện dưới hình thức quyết định hành chính bằng văn bản.
  • Ba nguyên tắc bắt buộc: (1) Tuân thủ pháp luật, đúng thẩm quyền và trình tự; (2) Bảo đảm tính khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời; (3) Thống nhất thể hiện toàn bộ hoạt động giải quyết bằng văn bản.
  • Thẩm quyền giải quyết: Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với QĐHC, HVHC của mình hoặc của công chức trực thuộc; giải quyết lần hai đối với vụ việc mà Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ (các Cục, Vụ, đơn vị sự nghiệp) đã giải quyết lần đầu nhưng vẫn còn khiếu nại. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc giải quyết khiếu nại đối với QĐHC, HVHC của chính mình và công chức, viên chức thuộc quyền.
  • Quy trình giải quyết khiếu nại: Khóa luận chi tiết hóa quy trình giải quyết qua 3 bước theo Luật Khiếu nại 2011 và Nghị định 124/2020/NĐ-CP:
Bước thực hiện Nội dung công việc nghiệp vụ Căn cứ và yêu cầu cụ thể
Bước 1: Chuẩn bị giải quyết Tiếp nhận đơn đủ điều kiện, nghiên cứu sơ bộ tài liệu, tiếp xúc đương sự, kiểm tra thực tế sơ bộ, ban hành quyết định thụ lý và chuẩn bị kế hoạch xác minh. Ban hành quyết định thụ lý; thông báo rõ lý do nếu không thụ lý; làm mốc tính thời hạn luật định.
Bước 2: Tiến hành xác minh nội dung Công bố quyết định xác minh; yêu cầu cung cấp chứng cứ; kiểm tra thực địa lập biên bản; trưng cầu giám định; tổ chức đối thoại trực tiếp; lấy xác nhận chuyên môn; sử dụng phương tiện kỹ thuật hỗ trợ; phân tích, đánh giá chứng cứ và xây dựng báo cáo xác minh. Trưng cầu giám định lập theo Mẫu số 09 Nghị định 124/2020/NĐ-CP; Báo cáo xác minh tuân thủ khoản 4 Điều 29 Luật Khiếu nại 2011.
Bước 3: Kết thúc giải quyết Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại; gửi quyết định; công khai quyết định; tổ chức thi hành quyết định có hiệu lực pháp luật; lập, sắp xếp và giao nộp hồ sơ vào lưu trữ. Gửi quyết định giải quyết lần 1 trong 03 ngày làm việc, lần 2 trong 07 ngày làm việc; công khai trong 15 ngày; bàn giao hồ sơ lưu trữ trong 30 ngày.
  • Yếu tố ảnh hưởng: Yếu tố khách quan gồm cơ sở vật chất (trụ sở, thiết bị, tài chính), mức độ phối hợp liên ngành, công tác kiểm soát thanh tra của chính quyền các cấp; Yếu tố chủ quan gồm trình độ chuyên môn, phẩm chất, ý thức trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức và mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thanh tra.

Chương 2: Thực trạng giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua việc xem xét tình hình đơn thư và phân tích các vụ việc cụ thể tại Thanh tra Chính phủ giai đoạn 2021 - 2023:

  • Tình hình khiếu nại: Đơn thư phức tạp và khiếu nại đông người có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung vào lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai (thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, hạ tầng giao thông; đòi nâng giá đền bù; bố trí tái định cư; giải quyết tranh chấp đất đai lịch sử).
  • Thực tiễn tiếp nhận và xử lý qua các vụ việc cụ thể:
    • Vụ việc xử lý kỷ luật năm 2022: Công chức Tạ Hà X khiếu nại lần đầu đối với quyết định kỷ luật khiển trách do Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành. Tổng Thanh tra Chính phủ đã tiếp nhận, giao cán bộ xác minh, giải thích thấu đáo và xử lý dứt điểm.
    • Vụ việc tiếp công dân năm 2023: Viên chức Trần Anh T (Ban Tiếp công dân Trung ương) để xảy ra thiếu sót khi thi hành công vụ dẫn đến việc công dân khiếu nại HVHC; Trưởng Ban Tiếp công dân Trung ương đã trực tiếp thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền đối với viên chức trực thuộc.
    • Vụ việc giải quyết khiếu nại lần một năm 2021: Công chức Nguyễn Thị B (Cục trưởng Cục II - Thanh tra Chính phủ) khiếu nại hành vi không thực hiện hoạt động công vụ; Tổng Thanh tra Chính phủ đã giao Phó Tổng Thanh tra trực tiếp xác minh, báo cáo và giải quyết theo đúng quy định.
    • Vụ việc tại đơn vị sự nghiệp trực thuộc: Trường Cán bộ Thanh tra (theo Quyết định số 444/QĐ-TTCP) thụ lý giải quyết khiếu nại về kỷ luật lao động đối với viên chức Nguyễn Thị L (Phòng Hành chính).
  • Những mặt đạt được: Văn bản giải quyết ban hành bảo đảm đúng thẩm quyền và trình tự theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; TTCP đã chủ động tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ xử lý nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài; nghiên cứu thí điểm mô hình tiếp công dân trực tuyến; đội ngũ cán bộ, công chức 100% đạt trình độ cử nhân trở lên, được đào tạo chuẩn hóa tại Học viện Hành chính Quốc gia và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Bất cập, tồn tại và điểm nghẽn pháp lý:
Nhóm vấn đề Nội dung bất cập thực tế Hậu quả hoặc điểm nghẽn
Cơ chế đối thoại, tranh luận Quá trình xử lý mang tính hành chính một chiều; người khiếu nại khó tiếp cận hồ sơ, tài liệu vụ việc; vai trò của luật sư trợ giúp pháp lý còn mờ nhạt. Chưa bảo đảm tính công khai, minh bạch triệt để trong đối thoại.
Thời hạn giải quyết Quy định Điều 28 Luật Khiếu nại 2011: không quá 30 - 45 ngày (vùng sâu vùng xa 45 - 60 ngày). Không đủ thời gian xác minh đối với các vụ việc đất đai phức tạp, liên quan nhiều cấp.
Xung đột thời hiệu Luật Khiếu nại 2011 quy định thời hiệu là 90 ngày; Luật Tố tụng hành chính 2015 cho phép thời hiệu khởi kiện lên tới 01 năm. Tạo ra rào cản pháp lý, thiếu tính thống nhất giữa thủ tục hành chính và tố tụng tư pháp.
Khiếu nại đông người Nhiều người cùng khiếu nại một nội dung nhưng phân tán: người gửi đơn hành chính, người khởi kiện ra Tòa án. Thiếu quy định, hướng dẫn cụ thể để phối hợp giải quyết đồng bộ.
Trưng cầu giám định Quy định cho phép trưng cầu giám định nhưng thiếu hướng dẫn về thủ tục thực hiện, nguồn kinh phí và thanh quyết toán. Khó triển khai nghiệp vụ giám định chuyên sâu trong thực tế.
Cơ sở dữ liệu quốc gia Phần mềm Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo chưa được các bộ, ngành, địa phương cập nhật dữ liệu thường xuyên. Khai thác thông tin liên thông chưa đạt hiệu quả; vướng mắc về an ninh mạng.
  • Nguyên nhân:
    • Khách quan: Chính sách, pháp luật về đất đai, bồi thường GPMB còn nhiều khoảng trống và thay đổi thiếu ổn định; nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân chưa đầy đủ, dễ bị kích động khiếu nại vượt cấp; ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 làm gián đoạn công tác tiếp dân.
    • Chủ quan: Công tác quản lý nhà nước ở một số địa phương còn buông lỏng; người đứng đầu cơ quan cơ sở né tránh, ngại va chạm, có tâm lý "giải quyết hết thẩm quyền" chứ không "giải quyết dứt điểm vụ việc"; năng lực cán bộ cơ sở còn mỏng; sự phối hợp liên ngành có lúc thiếu chặt chẽ.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ

Chương 3 xây dựng các định hướng và nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện hoạt động giải quyết khiếu nại:

  • Phương hướng của Đảng: Quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; coi giải quyết khiếu nại là nhiệm vụ trọng tâm gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, lãng phí và củng cố lòng tin của nhân dân.
  • Phương hướng của Nhà nước: Hoàn thiện đồng bộ hành lang pháp lý (đất đai, đầu tư, xây dựng); đề cao trách nhiệm người đứng đầu theo Luật Tiếp công dân 2013, lấy kết quả giải quyết khiếu nại làm tiêu chí đánh giá cán bộ; đổi mới hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; tăng cường trách nhiệm thông tin chính xác, khách quan của cơ quan báo chí.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện pháp luật: Đề xuất sửa đổi Luật Khiếu nại 2011 theo hướng điều chỉnh tăng thời hạn giải quyết đối với vụ việc phức tạp; thống nhất thời hiệu khiếu nại với thời hiệu khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính; quy định rõ ràng thủ tục và kinh phí trưng cầu giám định; minh định các dạng quyết định hành chính bị khiếu nại.
    2. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật: Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho công dân, giải thích rõ chính sách để hạn chế tình trạng khiếu nại vượt cấp, trái luật.
    3. Hoàn thiện quy trình và chuyển đổi số: Thúc đẩy triển khai Mô hình tiếp công dân trực tuyến; nghiên cứu xây dựng mô hình giải quyết khiếu nại trực tuyến; sớm ban hành Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo để vận hành đồng bộ, đảm bảo an toàn an ninh mạng.
    4. Tăng cường phối hợp và hướng dẫn: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa TTCP với các cơ quan thanh tra địa phương, bộ ngành và cơ quan tư pháp; chú trọng công tác hòa giải, đối thoại dứt điểm tại cơ sở.
    5. Đảm bảo nguồn lực: Bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và kỹ năng xử lý tình huống cho đội ngũ công chức thanh tra; đầu tư trụ sở, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và bố trí nguồn kinh phí thỏa đáng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và hệ thống hóa toàn diện các quy định thực định điều chỉnh hoạt động giải quyết khiếu nại của cơ quan Thanh tra Chính phủ, thể hiện qua các kết quả cụ thể:

  • Làm rõ cấu trúc phân định thẩm quyền nội bộ của Thanh tra Chính phủ gồm 13 đơn vị phụ trách và 6 đơn vị trực thuộc theo Nghị định số 81/2023/NĐ-CP; chỉ rõ thẩm quyền giải quyết lần đầu, lần hai của Tổng Thanh tra Chính phủ và Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc.
  • Phân tích chi tiết quy trình giải quyết khiếu nại 3 bước chuẩn mực; định vị chính xác các mốc thời gian luân chuyển văn bản (thời hạn 03 ngày gửi văn bản lần một, 07 ngày gửi văn bản lần hai, 15 ngày công khai quyết định và 30 ngày lập hồ sơ lưu trữ).
  • Minh chứng sinh động cơ chế giải quyết đơn thư thông qua các vụ việc cụ thể phát sinh trong ngành: vụ giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của công chức Tạ Hà X (2022), vụ khiếu nại hành vi hành chính của viên chức Trần Anh T tại Ban Tiếp công dân Trung ương (2023), vụ khiếu nại hành vi hành chính của Cục trưởng Cục II Nguyễn Thị B (2021) và vụ kỷ luật lao động tại Trường Cán bộ Thanh tra theo Quyết định số 444/QĐ-TTCP.
  • Xác định rõ các mâu thuẫn pháp lý hiện hành: xung đột giữa thời hiệu khiếu nại 90 ngày của Luật Khiếu nại và thời hiệu khởi kiện 01 năm của Luật Tố tụng hành chính; mâu thuẫn giữa khung thời hạn giải quyết 30 - 45 ngày với tính chất phức tạp của các tranh chấp đất đai kéo dài.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Phần lớn các công trình tiền nhiệm (như nghiên cứu của Hoàng Thùy Linh, Nguyễn Hoài Thoa, Lê Tiểu Vy, Nguyễn Tiến Dũng) chỉ khảo sát trong phạm vi hẹp tại một địa phương cụ thể (Hải Dương, Đắk Lắk, Nam Định, Phú Yên) hoặc chuyên biệt về một lĩnh vực bồi thường đất đai. Khóa luận này đã khắc phục khoảng trống nghiên cứu bằng việc tiếp cận trực tiếp hoạt động giải quyết khiếu nại ở cấp vĩ mô tại cơ quan đầu ngành Thanh tra Chính phủ, phân tích toàn diện dưới góc độ quản lý nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế nhất định do tác giả tự nhận định:

  • Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn chỉ giới hạn trong khung thời gian 03 năm (từ năm 2021 đến năm 2023), chưa thể đánh giá một cách tổng thể chuỗi biến động dài hạn của công tác giải quyết khiếu nại qua các thời kỳ.
  • Do yêu cầu bảo mật thông tin và tính chất công tác nội bộ của ngành thanh tra, các thông tin, nhân danh trong một số vụ việc thực tế đã được thay đổi, chưa phản ánh trọn vẹn toàn bộ hồ sơ nghiệp vụ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra dựa trên phạm vi đề tài:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên chuỗi dữ liệu dài hạn hơn để so sánh hiệu quả giải quyết khiếu nại trước và sau đại dịch Covid-19.
  • Đi sâu nghiên cứu khung pháp lý và giải pháp kỹ thuật khi Nghị định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo chính thức được ban hành và đưa vào vận hành thực tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Thanh tra, Quản lý nhà nước, Luật Hành chính tại Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở đào tạo pháp lý tham khảo làm đề tài nghiên cứu liên quan đến khiếu nại hành chính.
  • Cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, tham mưu xử lý đơn thư và thanh tra viên tại các cơ quan Thanh tra bộ, ngành, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao nhất:

  • Phần tổng hợp quy trình nghiệp vụ giải quyết khiếu nại 3 bước tại Chương 1, với hệ thống căn cứ điều luật, biểu mẫu chuẩn xác (như Mẫu số 09 Nghị định 124/2020/NĐ-CP và khoản 4 Điều 29 Luật Khiếu nại 2011).
  • Bảng luận giải các điểm bất cập, mâu thuẫn giữa Luật Khiếu nại 2011 với Luật Tố tụng hành chính 2015 và thực tiễn vận hành phần mềm Cơ sở dữ liệu quốc gia tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Tổng Thanh tra Chính phủ được pháp luật quy định như thế nào?
Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình hoặc của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp. Đồng thời, Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ (các Cục, Vụ, đơn vị trực thuộc) đã giải quyết lần đầu nhưng vẫn còn khiếu nại hoặc đã hết thời hạn quy định nhưng chưa được giải quyết.

2. Quy định về thời hiệu và thời hạn giải quyết khiếu nại trong Luật Khiếu nại 2011 có điểm bất cập nào được chỉ ra trong khóa luận?
Khóa luận chỉ ra hai bất cập lớn: Thứ nhất, thời hiệu khiếu nại theo Luật Khiếu nại 2011 chỉ có 90 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được QĐHC, HVHC; trong khi Luật Tố tụng hành chính 2015 cho phép thời hiệu khởi kiện tại Tòa án lên tới 01 năm, dẫn đến sự thiếu đồng bộ, gây trở ngại cho việc thi hành các quyết định hành chính đã có hiệu lực. Thứ hai, Điều 28 quy định thời hạn giải quyết không quá 30 ngày (vụ việc phức tạp không quá 45 ngày; vùng sâu vùng xa từ 45 đến 60 ngày), khoảng thời gian này trên thực tế không đủ để cán bộ xác minh các vụ việc phức tạp liên quan đến đất đai và nhiều cơ quan ban ngành.

3. Văn bản kết thúc giải quyết khiếu nại phải được gửi và công khai trong thời hạn bao lâu?
Căn cứ theo quy định được trích xuất trong khóa luận: Văn bản giải quyết khiếu nại lần đầu phải được gửi tới người khiếu nại trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc; văn bản giải quyết lần hai gửi tới các bên liên quan trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc. Quyết định giải quyết khiếu nại phải được người có thẩm quyền công khai trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ban hành bằng các hình thức niêm yết, công bố tại cuộc họp cơ quan hoặc thông tin đại chúng. Việc sắp xếp, bàn giao hồ sơ vụ việc vào bộ phận lưu trữ phải hoàn thành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đóng hồ sơ.

4. Khóa luận đã dẫn chứng những vụ việc thực tế nào để chứng minh thẩm quyền xử lý đơn của cơ quan Thanh tra Chính phủ?
Tác giả đã đưa ra 4 vụ việc thực tế điển hình: (1) Vụ việc Tổng Thanh tra Chính phủ giải quyết khiếu nại lần đầu của công chức Tạ Hà X về quyết định kỷ luật khiển trách năm 2022; (2) Vụ việc Trưởng Ban Tiếp công dân Trung ương giải quyết khiếu nại hành vi hành chính của viên chức Trần Anh T năm 2023; (3) Vụ việc Tổng Thanh tra Chính phủ giao một Phó Tổng Thanh tra giải quyết khiếu nại lần một của công chức Nguyễn Thị B (Cục trưởng Cục II) năm 2021; (4) Vụ việc Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra xử lý khiếu nại kỷ luật lao động của viên chức Nguyễn Thị L (Phòng Hành chính) căn cứ theo Quyết định số 444/QĐ-TTCP.

5. Vì sao Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo chưa phát huy tối đa hiệu quả trong giai đoạn 2021 - 2023?
Nguyên nhân chủ yếu do việc triển khai phần mềm mới ở bước đầu; nhiều bộ, ngành, địa phương chưa cập nhật dữ liệu một cách thường xuyên, liên tục lên hệ thống; hành lang pháp lý chưa đồng bộ do Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo chưa được ban hành hoàn chỉnh; đồng thời công tác khai thác còn gặp thách thức về bảo đảm an ninh mạng và trình độ công nghệ của đội ngũ cán bộ xử lý thông tin.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Chí Đạt đã phản ánh hệ thống và trung thực các vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết khiếu nại tại Thanh tra Chính phủ giai đoạn 2021 - 2023. Công trình làm rõ thẩm quyền, quy trình giải quyết 3 bước, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn thực định về thời hiệu, thời hạn và cơ chế trưng cầu giám định. Dựa trên các chỉ đạo của Đảng tại Chỉ thị 35-CT/TW và khung pháp luật hiện hành, các giải pháp được đề xuất tập trung vào hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực đội ngũ công chức và thúc đẩy chuyển đổi số qua mô hình tiếp công dân trực tuyến, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác thanh tra và quản lý nhà nước.