Giải Phẫu Hệ Tiết Niệu: Tìm Hiểu Về Thận, Bàng Quang và Niệu Quản

Giao trình giải phẫu được phần 2 8376 cung cấp kiến thức chuyên sâu về giải phẫu học, hỗ trợ sinh viên y khoa trong quá trình học tập.

Chuyên ngành

Khoa Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Giảng
100
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Phẫu Hệ Tiết Niệu Thận Bàng Quang Niệu Quản

Hệ tiết niệu là một phần quan trọng trong cơ thể, có nhiệm vụ lọc và bài tiết chất thải qua nước tiểu. Hệ này bao gồm hai quả thận, bàng quang và niệu quản. Thận có vai trò chính trong việc duy trì thăng bằng nước và điện giải, trong khi bàng quang là nơi chứa nước tiểu trước khi bài tiết ra ngoài. Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Hiểu rõ về cấu trúc và chức năng của các bộ phận này là rất cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan.

1.1. Cấu Trúc Cơ Bản Của Hệ Tiết Niệu

Hệ tiết niệu bao gồm thận, niệu quản và bàng quang. Thận có hình hạt đậu, nằm ở hai bên cột sống thắt lưng. Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Bàng quang là túi chứa nước tiểu, có khả năng co giãn để chứa lượng nước tiểu lớn.

1.2. Chức Năng Chính Của Hệ Tiết Niệu

Hệ tiết niệu có nhiệm vụ lọc máu, loại bỏ chất độc và duy trì thăng bằng nước điện giải. Thận không chỉ là cơ quan bài tiết mà còn có vai trò nội tiết, tiết ra các hormone như renin và erythropoietin.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Giải Phẫu Hệ Tiết Niệu

Các bệnh lý liên quan đến hệ tiết niệu như sỏi thận, viêm thận, và các rối loạn chức năng có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động đến chất lượng cuộc sống. Việc hiểu rõ về các bệnh lý này giúp trong việc phát hiện sớm và điều trị hiệu quả.

2.1. Các Bệnh Lý Thường Gặp Ở Thận

Bệnh lý thận phổ biến bao gồm viêm thận, suy thận và sỏi thận. Những bệnh này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

2.2. Vấn Đề Liên Quan Đến Bàng Quang

Bàng quang có thể gặp phải các vấn đề như viêm bàng quang, rối loạn tiểu tiện và ung thư bàng quang. Những vấn đề này cần được chẩn đoán và điều trị sớm để tránh các biến chứng.

III. Phương Pháp Giải Phẫu Thận Cấu Trúc và Chức Năng

Giải phẫu thận bao gồm việc mô tả vị trí, kích thước, hình thể và cấu tạo của thận. Thận có hai mặt, hai bờ và hai cực, với cấu trúc bên trong phức tạp bao gồm nhu mô thận và hệ thống ống sinh niệu. Việc hiểu rõ cấu trúc này giúp trong việc thực hiện các phẫu thuật liên quan đến thận.

3.1. Cấu Tạo Của Thận

Thận có hình hạt đậu, được bọc trong một bao xơ. Bên trong thận có nhu mô thận, bao gồm vùng vỏ và vùng tủy, nơi diễn ra quá trình lọc máu và tạo nước tiểu.

3.2. Hệ Thống Mạch Máu Của Thận

Thận được cung cấp máu bởi động mạch thận, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho thận. Hệ thống tĩnh mạch thận giúp đưa máu đã lọc trở về tuần hoàn.

IV. Giải Phẫu Bàng Quang Vị Trí và Chức Năng

Bàng quang là một cơ quan chứa nước tiểu, có khả năng co giãn để chứa lượng nước tiểu lớn. Vị trí của bàng quang nằm ở vùng chậu, phía trước niệu quản. Hiểu rõ về cấu trúc và chức năng của bàng quang là cần thiết để chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan.

4.1. Cấu Trúc Của Bàng Quang

Bàng quang có hình dạng giống như một túi, với thành cơ dày giúp co giãn. Bàng quang có ba lớp: lớp niêm mạc, lớp cơ và lớp ngoài cùng.

4.2. Chức Năng Của Bàng Quang

Bàng quang có chức năng chứa nước tiểu và điều chỉnh quá trình bài tiết. Khi bàng quang đầy, các tín hiệu sẽ được gửi đến não để kích thích cảm giác cần đi tiểu.

V. Niệu Quản Cấu Trúc và Chức Năng Quan Trọng

Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Cấu trúc của niệu quản bao gồm lớp cơ và lớp niêm mạc, giúp vận chuyển nước tiểu một cách hiệu quả. Hiểu rõ về niệu quản giúp trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan.

5.1. Cấu Tạo Của Niệu Quản

Niệu quản có chiều dài khoảng 25-28 cm, với ba chỗ hẹp quan trọng. Cấu trúc của niệu quản bao gồm lớp cơ và lớp niêm mạc, giúp vận chuyển nước tiểu từ thận xuống bàng quang.

5.2. Chức Năng Của Niệu Quản

Niệu quản có chức năng dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang. Sự co bóp của niệu quản giúp đẩy nước tiểu xuống bàng quang một cách hiệu quả.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Nghiên Cứu Hệ Tiết Niệu

Nghiên cứu về hệ tiết niệu đang ngày càng phát triển, với nhiều phương pháp mới trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan. Việc hiểu rõ về giải phẫu và chức năng của thận, bàng quang và niệu quản là rất cần thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

6.1. Xu Hướng Nghiên Cứu Mới

Nghiên cứu hiện nay đang tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới cho các bệnh lý thận và bàng quang, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.

6.2. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Y Tế

Giáo dục y tế về hệ tiết niệu là rất quan trọng, giúp người dân hiểu rõ hơn về sức khỏe của mình và các biện pháp phòng ngừa bệnh lý.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y GIẢI PHẪU HỆ TIẾT NIỆU Mục tiêu bài giảng 1. Mô tả được vị trí, kích thước, hình thể và liên quan của thận. Mô tả được động mạch của thận. Kể tên các phân thuỳ của thận.

Nắm được cấu tạo của tuyến thượng thận. Mô tả vị trí, kích thước, cấu tạo, liên quan của các đoạn niệu quản. Mô tả được vị trí, kích thước, cấu tạo, liên quan của bàng quang. Mô tả được các phương tiện cố định bàng quang.

Mô tả được vị trí, kích thước, cấu tạo, liên quan của niệu đạo. Nội dung Bộ máy tiết niệu có nhiệm vụ lọc các chất độc của máu, để bài tiết ra ngoài bằng nƣớc tiểu. Bộ máy tiết niệu gồm có: - Hai quả thận là hai tạng bài tiết nằm hai bên cột sống thắt lƣng. - Đƣờng dẫn niệu từ thận xuống 1 túi chứa nƣớc tiểu là bàng quang gồm: đài thận, bể thận, niệu quản.

- Đƣờng dẫn niệu từ bàng quang ra ngoài là niệu đạo. Sơ đồ hệ thống tiết niệu I. THẬN Thận (renal) là cơ quan chẵn có vai trò quan trọng trong việc duy trì thăng bằng nƣớc, điện giải trong cơ thể và đào thải một số chất độc ra ngoài qua sự thành lập và bài tiết nƣớc tiểu. Do đó, thận đƣợc xem nhƣ một tuyến ngoại tiết.

Tuy nhiên thận còn có vai trò nhƣ một tuyến nội tiết có ảnh hƣởng đến sự điều chỉnh huyết áp và tạo hồng cầu. Ngoại tiết: 147 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y - Thải chất độc trong cơ thể qua nƣớc tiểu. - Duy trì thăng bằng nƣớc điện giải. Nội tiết: - Tiết Renin điều chỉnh huyết áp.

- Tiết Erythropoietin kích thích tủy xƣơng tạo hồng cầu. Vị trí Thận nằm sau phúc mạc, trong góc hợp bởi xƣơng sƣờn XI và cột sống thắt lƣng, ngay trƣớc cơ thắt lƣng, trên mặt phẳng phân giác của của góc tạo bởi mặt phẳng đứng dọc giữa và mặt phẳng đứng ngang. Thận phải thấp hơn thận trái khoảng 2 cm (có thể do gan đè lên). Trục lớn của thận chạy chếch xuống dƣới, ra ngoài và ra sau.

Do đó, đầu trên - thận gần nhau, cánh đƣờng giữa khoảng 3 - 4 cm. Đầu dƣới 2 thận xa nhau, cách đƣờng giữa 5 - 6 cm (có thể do cơ thắt lƣng đẩy ra). Vị trí thận có thể hơi thay đôi theo nhịp thở và tƣ thế. Đầu trên thận trái ngang mức bờ trên xƣơng sƣờn XI.

Đầu dƣới ngang mức mỏm ngang đốt sống thắt lƣng III, cách điểm cao nhất của mào chậu 3 cm (thận phải) và 5 cm (thận trái). Hình thể ngoài Thận có hình hạt đậu hay hình bầu dục, màu nâu đỏ, bề mặt trơn láng, đƣợc bọc trong một bao xơ mà bình thƣờng có thể bóc ra dễ dàng. Thận có hai mặt trƣớc và sau. Mặt trƣớc: lồi, nhìn ra trƣớc và ra ngoài.

Mặt sau: phẳng nhìn ra sau và vào trong. Thận có hai bờ: bờ ngoài: lồi, bờ trong: lồi ở phần trên và dƣới, lõm ở giữa gọi là rốn thận là nơi động mạch tĩnh mạch, niệu quản đi qua. Thận có hai đầu (2 cực): đầu trên và đầu dƣới. Trục lớn là đƣờng nối hai đầu, chếch từ trên xuống dƣới, ra ngoài và ra sau.

Thận và tuyến thƣợng thận 1. Tuyến thƣợng thận 5. Động mạch thận 6. Tĩnh mạch thận 7.

Niệu quản 148 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Thận ở thai nhi có múi, ở ngƣời trƣởng thành đôi khi thận cũng có múi do kém phát triển. Một số rất ít trƣờng hợp, có thể chỉ có một thận hoặc hai thận dính vào nhau ở cực dƣới (thận hình móng ngựa) nằm vắt ngang trƣớc cột sống. Thận đáy chậu 1 bên, B. Thận móng ngựa.

tuyến thượng thận; 2. tĩnh mạch chủ dưới; 3. động mạch chủ; 6. động mạch thận; 7.

động mạch mạc treo dưới. Kích Thƣớc, Cân Nặng Thận có chiều dài khoảng 12 cm, rộng khoảng 6 cm và dày khoảng 3 cm. Trên phim X quang, mỗi thận cao bằng 3 thân đốt sống. Mỗi thận cân nặng từ 90 - 180 g, trung bình khoảng 150 g.

Thận nam hơi nặng hơn thận nữ một chút. Bình thƣờng, khi khám lâm sàng ngƣời ta không thể sờ đƣợc thận, chỉ sờ đƣợc thận khi thận to (dấu hiệu chạm thận, bập bềnh thận). Mạc Thận Thận và tuyến thƣợng thận cùng bên đƣợc bao bọc bởi một mạc gọi là mạc thận. Giữa thận và tuyến thƣợng thận, mạc thận có một trẻ ngang ngăn cách nên khi thận sa xuống vì một lý do nào đó thì tuyến thƣợng thận vẫn đƣợc giữ nguyên tại chỗ.

Mạc thận gồm một lá trƣớc và một lá sau. 149 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Hình 4: A.Thiết đồ cắt đứng dọc qua ổ thận B.Thiết đồ cắt nằm ngang qua hai ổ thận Ở phía trên tuyến thƣợng thận, 2 lá mạc thận chập vào nhau và dính vào lá mạc ở mặt dƣới cơ hoành. Ở dƣới 2 lá mạc thận tiến lại gần nhau rồi hoà hợp vào tổ chức mạc chậu (lớp mô ngoài phúc mạc). Ở phía trong, lá sau hoà lẫn vào mạc cơ thắt lƣng và qua đó đến bám vào thân các đốt sống thắt lƣng.

Lá trƣớc phủ mặt trƣớc thận rồi đi trƣớc bó mạch thận và động mạch chủ và liên tiếp với lá trƣớc bên đối diện. Tuy nhiên 2 lá phải và trái đều dính cả vào cuống thận và các tổ chức liên kết quanh mạch máu ở rốn thận nên 2 ổ thận không thông nhau, vì vậy áp xe ở một bên thận không lan sang bên kia đƣợc. Ở phía ngoài 2 lá trƣớc và sau của mạc thận chập vào nhau rồi biến vào tổ chức liên kết dƣới phúc mạc. Mạc thận ngăn cách với bao xơ của thận bởi một lớp mỡ gọi là lớp mỡ quanh thận.

Trong bao mở quanh thận có mạch máu, thần kinh nên khi phóng bế ta phải bơm thuốc vào lớp mỡ này. Khi lớp này bị viêm gọi là viêm tấy vùng quanh thận. Cần phân biệt lớp mỡ quanh thận với lớp mỡ cạnh thận là tổ chức mỡ nằm ngoài mạc thận (giữa lá sau mạc thận và thành bụng sau). Phía trƣớc 150 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Thận trái: rốn thận ngang mức môn vị, cách đƣờng giữa 4 cm.

Cực dƣới nằm trên đƣờng ngang qua 2 bờ sƣờn. Thận phải: rốn và cực dƣới hơi thấp hơn thận trái. Phía sau Thận trái: rốn thận ngang mức mõm ngang đốt sống L1. Cực trên: ngang bờ trên xƣơng sƣờn XI.

Cực dƣới: cách điểm cao nhất của mào chậu trái khoảng 5 cm. Thận phải: cực trên ngang bờ dƣới xƣơng sƣờn XI. Cực dƣới cách mào chậu phải khoảng 3 cm. Hình 5: Hình chiếu của thận.

Phía trƣớc 6. Thận phải Ở sau phúc mạc, gần nhƣ nằm trên rễ mạc treo kết tràng ngang. Đầu trên và phần trên bờ trong: liên quan với tuyến thƣợng thận phải. Bờ trong: liên quan với phần xuống của tá tràng (DII), cơ thắt lƣng, bó mạch tuyến thƣợng thận, bó mạch thận, bể thận, phần trên niệu quản, bó mạch tinh hoàn (hay buồng trứng) và tĩnh mạch chủ dƣới.

Bờ ngoài liên quan với bờ trƣớc của gan. Mặt trƣớc: liên quan phần lớn với vùng gan ngoài phúc mạc. Phần còn lại liên quan với góc kết tràng phải và ruột non. Thận trái Ở phía sau phúc mạc có rễ mạc treo kết tràng ngang bắt chéo phía trƣớc.

Đầu trên và phần trên bờ trong: liên quan với tuyến thƣợng thận trái. Bờ ngoài liên quan với bờ dƣới tỳ (lách), với đại tràng xuống. Bờ trong: liên quan với cơ thắt lƣng, bó mạch tuyến thƣợng thận, bó mạch thận, bể thận, phần trên niệu quản, bó mạch tinh hoàn (hay buồng trứng) và động mạch chủ bụng. 151 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Phần dƣới: liên quan với dạ dày qua túi mạc nối, tụy tạng và lách, góc kết tràng trái, phần trên kết tràng trái và ruột non.

Liên quan trƣớc của thận 1. Tuyến thƣợng thận phải 2. TM chủ dƣới 5. Tuyến thƣợng thận trái 6.

Phía sau Là mặt phẫu thuật chủ yếu của thận. Xƣơng sƣờn XII bắt chéo ngang qua mặt sau thận và chia mặt sau thận làm 2 phần liên quan là tầng ngực và tầng thắt lƣng. Phần trên xương sườn 12 (tầng ngực) Từ sâu ra nông liên quan với cơ hoành, góc phế mạc sƣờn hoành của màng phối, xƣơng sƣờn XI - XII và 2 dây chằng sƣờn thắt lƣng (dây chằng Haller). Từ mỏm ngang các đốt LI và LII tới xƣơng sƣờn có 2 trƣờng hợp: - Khi xƣơng sƣờn XII ngắn: thì 2 dây chằng sƣờn thắt lƣng có một dây bám vào xƣơng sƣờn XI, một dây bám vào xƣơng sƣờn XII.

Trƣờng hợp này màng phổi xuống thấp hơn xƣơng sƣờn XII khoảng 1 cm. Vì vậy khi phẫu thuật thận phải cắt xƣơng sƣờn XII thì rất dễ chạm thƣơng vào màng phổi. - Khi xƣơng sƣờn XII dài: thì cả 2 dây chằng sƣờn thắt lƣng đều bám vào xƣơng sƣờn XII. Trƣờng hợp này màng phổi bắt chéo xƣơng sƣờn XII cách cột sống lƣng khoảng 6 cm.

Phần dưới xương sườn 12 (tầng bụng) Phần này chủ yếu liên quan với 2 khối cơ, là khối cơ dựng sống và khối cơ rộng bụng. - Khối cơ dựng sống (cơ thắt lƣng, cơ vuông thắt lƣng, cơ mỏm ngang, các đốt sống thắt lƣng và khối cơ ở rãnh sống). - Khối cơ rộng bụng từ sâu ra nông: mạc ngang bụng và các cơ rộng bụng (cơ chéo bụng trong và ngoài, cơ răng bé sau dƣới và phần cuối cơ lƣng to). Trong phẫu thuật, ngƣời ta thƣờng rạch qua khối cơ rộng bụng vào thận.

Đƣờng rạch theo một đƣờng kẻ từ góc giữa xƣơng sƣờn XII với khối cơ dựng sống tới trên gai chậu trƣớc trên độ 1cm để đi vào mặt sau của thận. 152 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Hình 6. Liên quan của mặt sau thận 1. Tĩnh mạch chủ dƣới 2.

Động mạch chủ bụng 3. Cơ vuông thắt lƣng 6. Hình thể trong và cấu tạo 7. Đại thể Thận đƣợc bọc trong một bao sợi, ở giữa là xoang thận, có mạch máu thần kinh, bể thận đi qua và đƣợc làm đầy bởi tổ chức mỡ.

Bao quanh xoang thận là khối nhu mô thận hình bán nguyệt. Xoang thận Xoang thận thông ra ngoài ở rốn thận, thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm. Chỗ lồi hình nón gọi là nhú thận. Nhú thận cao khoảng 4 - 10 mm.

Đầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ nƣớc tiểu vào bể thận. Chỗ lõm úp vào các nhú thận gọi là các đài nhỏ. Mỗi thận có khoảng 7 - 14 đài thận nhỏ. Các đài nhỏ, hợp lại thành 2 – 3 đài lớn.

Các đài lớn hợp lại thành bể thận. Bể thận thông với niệu quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ