CHƯƠNG 1 HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Đặc điểm tổ chức thoát nước trên Thế giới và ở Việt Nam 1.1 Đặc điểm thoát nước trên Thế giới * Hệ thống thoát nước ở Thành phố Tokyo – Nhật Bản Tokyo với dân số 12.000 là một trong những thành phố lớn nhất trên thế giới và vẫn đang phát triển. Với mật độ dân số đông đã kéo theo nhu cầu sử dụng nước và lượng nước thải tăng lên. Mặt khác hàng năm vào mùa mưa bão thường cho lượng nước mưa lớn thường gây ngập lụt Thành phố. Bởi vì điều này nên Thành phố Tokyo đã xây dựng một hệ thống thoát nước lớn dưới đất để tránh xảy ra vấn đề trên.
Năm 2004 hệ thống thoát nước của Thành phố Tokyo được hoàn thành. Hệ thống này có năm hồ chứa có đường kính 32m và chiều cao 65m, giữa bản thân chúng được kết nối thông qua một đường hầm có 6,4 dặm ở độ sâu 50m dưới mặt đất. Khi tất cả các thùng chứa nước tràn vào chiều cao 25,4m , dài phòng 177m và chiều cao 78m. Trong phòng này có 59 cột bơm của 10 megawatt, trong đó cùng nhau có thể bơm ra 200 m3 nước vào con sông địa phương Edogawa.1 Mô hình hệ thống thoát nước ở Thành phố Tokyo – Nhật Bản Nguồn: www.us 7 -8- * Hệ thống thoát nước ngầm ở London (Anh): Hình 1.2 Hệ thống thoát nước ngầm ở Anh Nguồn: www.com 8 -9- Hệ thống thoát nước ngầm ở London là một phần của hệ thống cơ sở hạ tầng về nước phục vụ cho London.
Hệ thống hiện đại này đã được xây dựng trong suốt khoảng thời gian cuối thế kỷ 19.2 Đặc điểm thoát nước ở Việt Nam Ở Việt Nam, cho đến nay, đã có hơn 700 đô thị. Tỷ lệ các hộ đấu nối vào mạng lưới thoát nước đô thị nhiều nơi còn rất thấp. Các tuyến cống được xây dựng và bổ sung chắp vá, có tổng chiều dài ngắn hơn nhiều so với chiều dài đường phố, ngõ xóm. Nhiều tuyến cống có độ dốc kém, bùn cặn lắng nhiều, không ngăn được mùi hôi thối.
Nhiều tuyến cống lại không đủ tiết diện thoát nước hay bị phá hỏng, xây dựng lấn chiếm, gây úng ngập cục bộ. Úng ngập thường xuyên xảy ra nhiều nơi về mùa mưa. Nước thải nhà vệ sinh phần lớn chảy qua bể tự hoại rồi xả ra hệ thống thoát nước chung tới kênh, mương, ao hồ tự nhiên hay thấm vào đất. Nước xám và nước mưa chảy trực tiếp ra nguồn tiếp nhận.
Mới chỉ có gần 10% nước thải đô thị được xử lý. Ở nhiều khu đô thị mới, mặc dù nước thải sinh hoạt đã được tách ra khỏi nước mưa từ ngay trong công trình, nhưng do sự phát triển không đồng bộ và sự gắn kết kém với hạ tầng kỹ thuật khu vực xung quanh, nên khi ra đến bên ngoài, các loại nước thải này chưa được xử lý, lại đấu vào một tuyến cống chung, gây ô nhiễm và lãng phí. Ngoài ra, cốt san nền của nhiều khu đô thị, đường giao thông và các khu vực lân cận không được quản lý thống nhất, nên gây tác động tiêu cực, ảnh hưởng lẫn nhau. Mô hình tổ chức thoát nước cho các đô thị Việt Nam: Nước thải có thể được thu gom và xử lý trong các loại hệ thống thoát nước chung, riêng, nửa riêng hay hỗn hợp, theo các mô hình tổ chức thoát nước tập trung hay phân tán.
Hệ thống thoát nước tập trung thường được xây dựng cho các khu trung tâm đô thị, có mật độ dân số cao, có điều kiện xây dựng đồng bộ. Tuy nhiên, phương thức thoát nước truyền thống này có nhiều hạn chế, vì thế, ngày nay 9 -10- trên thế giới khuyến khích áp dụng mô hình phân tán, đặc biệt là cho các khu đô thị mới, các vùng ven đô, nông thôn với các công trình thu gom, xử lý, xả hay tái sử dụng nước thải cho các hộ riêng lẻ (giải pháp tại chỗ) hoặc khu dân cư (giải pháp phân tán theo cụm). Vào đầu những năm 60, Hà Nội xây dựng tiểu khu nhà cao tầng Kim Liên và ít năm sau Hải phòng xây dựng tiểu khu nhà khu nhà ở Đồng Bớp. Cả hai khu vực này đều áp dụng hệ thống cống riêng hoàn toàn, các nhà không có bể tự hoại, toàn bộ nước phân và nước thải sinh hoạt đều thoát cùng trong mạng lưới thoát nước thải và có một mạng lưới thoát nước mưa kết hợp giữa cống kín và mương hở.
Nước thải được tập trung về trạm bơm, bố trí ở trung tâm khu vực và từ đó được đưa đến trạm xử lý nước thải bằng bể lắng hai vỏ. Nguồn: Thoát nước đô thị, KS. Trần Văn Mô, NXB xây dựng, Hà Nội 2002 1.1 Luật bảo vệ môi trường 2005 và các Nghị định I. Quy định chung: 1.
Luật bảo vệ môi trường 2005 2. Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường. Quy định cụ thể - Nghị định số 140/2006/NĐ-CP ngày 22-11-2006 của Chính phủ qui định việc bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và phát triển dự án phát triển - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09-4-2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. Quy định về phí bảo vệ môi trường - Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13-6-2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Nghị định số 04/200/NĐ-CP ngày 8-01-2007 của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.2 Hệ thống và văn bản quy phạm về quản lý thoát nước 1.1 Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2007 của Chính phủ về việc phân loại đô thị Nghị định nêu rõ: Việc phân loại đô thị nhằm tổ chức, sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị cả nước; lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị; nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững; xây dựng chính sách và cơ chế quản lý đô thị và phát triển đô thị. Đô thị được phân thành 6 loại, trong đó đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Điều kiện để công nhận loại cho các đô thị điều chỉnh mở rộng địa giới và đô thị mới: Việc điều chỉnh mở rộng địa giới đô thị phải căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Các khu vực 11 -12- điều chỉnh mở rộng địa giới phải được đầu tư xây dựng đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về phân loại đô thị.
Đối với khu vực dự kiến hình thành đô thị mới phải có quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và đã được đầu tư xây dựng về cơ bản đạt các tiêu chuẩn phân loại đô thị. Trường hợp đặc biệt theo yêu cầu quản lý lãnh thổ, chủ quyền quốc gia hoặc quản lý phát triển kinh tế- xã hội, việc quyết định cấp quản lý hành chính của một khu vực có thể được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định trước khi khu vực đó được đầu tư xây dựng đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về phân loại đô thị. Nghị định cũng đã quy định nguyên tắc, các tiêu chuẩn phân loại đô thị, căn cứ và chức năng đô thị; quy mô dân số tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên; mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong nội thành, nội thị phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động; hệ thống công trình hạ tầng đô thị; kiến trúc, cảnh quan đô thị.2 Nghị định 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 về thoát nước đô thị và khu công nghiệp Theo Nghị định 88/2007/NĐ-CP, Chính phủ quy định: nước thải từ hệ thống thoát nước đô thị, khu công nghiệp, từ các hộ thoát nước đơn lẻ xả ra nguồn tiếp nhận cũng như thải từ các hộ thoát nước xả vào hệ thống thoát nước đô thị, khu công nghiệp phải bảo đảm các quy chuẩn môi trường do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền quy định. Đối với các khu công nghiệp, đô thị mới hình thành phải quy hoạch xây dựng hệ thống thoát nước mưa, nước thải riêng.
Các đô thị đã có hệ thống thoát nước thì tùy điều kiện cụ thể của từng đô thị để nghiên cứu tổ chức quy hoạch thoát nước chung, riêng hoặc nửa riêng.3 Thông tư 09/2009/TT-BXD ngày 21/5/2009 Quy định chi tiết thực hiện một số nội dung của Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 về thoát nước đô thị và khu công nghiệp Áp dụng quy chuẩn nước thải theo Nghị định 88/2007/NĐ-CP: Nước thải khác (không phải nước thải sinh hoạt) xả vào hệ thống thoát nước phải bảo đảm quy chuẩn thải xả vào hệ thông thoát nước. Trường hợp không bảo đảm quy chuẩn thì phải được xử lý sơ bộ đạt quy chuẩn trước khi xả vào hệ thống thoát nước. Áp dụng phí thoát nước theo Nghị định 88/2007/NĐ-CP: - Phí thoát nước quy định quy định tại Nghị định 88/2007/NĐ-CP là phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và được áp dụng cho các hộ thoát nước xả nước thải vào hệ thống thoát nước tập trung của đô thị và khu công nghiệp. - Các hộ thoát nước không xả nước thải vào hệ thống thoát nước tập trung của đô thị và khu công nghiệp mà xả trực tiếp ra môi trường thì áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thao Nghị định 67/2003/NĐ-CP và Nghị định 04/2007/NĐ-CP.
- Các hộ thoát nước đã chịu phí thoát nước theo Nghị định 88/2007/NĐ-CP thì không phải chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP và Nghị định 04/2007/NĐ-CP.