Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại tỉnh Thái Nguyên gắn liền với sự hình thành và mở rộng của các trung tâm công nghiệp lớn như Khu công nghiệp Sông Công, Điềm Thụy, Lưu Xá - Gang Thép. Sự gia tăng các hoạt động sản xuất công nghiệp nặng đã tạo ra áp lực đáng kể đối với chất lượng môi trường nước trên địa bàn. Nhà máy Cốc Hóa thuộc Công ty Cổ phần Gang Thép Thái Nguyên (đặt tại phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên) được xây dựng từ đầu thập niên 1960 với sự hỗ trợ của Trung Quốc. Nhà máy giữ vai trò sản xuất than cốc luyện kim và thu hồi, chế biến các sản phẩm hóa học phục vụ sản xuất gang thép và nền kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động luyện cốc xả thải nhiều hợp chất hữu cơ độc hại như phenol, ammoniac và dầu cốc, từng khiến đơn vị nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Nhằm đánh giá các biện pháp cải tiến công nghệ và kiểm chứng mức độ an toàn của hệ thống xử lý nước thải sau khi nhà máy được đưa ra khỏi danh sách cơ sở gây ô nhiễm, tác giả Triệu Thị Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Thị Thanh Thủy.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Nắm bắt và làm rõ các kỹ thuật, quy trình xử lý nước thải đang được áp dụng tại Nhà máy Cốc Hóa Thái Nguyên.
  2. Đánh giá khả năng xử lý, mức độ ô nhiễm và nguồn phát sinh dòng thải tại nhà máy; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường nước tiếp nhận.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: điều tra điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội địa phương, khảo sát dây chuyền công nghệ sản xuất, thống kê các nguồn và lưu lượng nước thải, lấy mẫu phân tích các thông số lý - hóa - sinh, và điều tra ý kiến cộng đồng dân cư xung quanh nhà máy.

  • Đối tượng nghiên cứu: Kỹ thuật và quy trình xử lý nước thải tại Nhà máy Cốc Hóa Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Khu vực mặt bằng sản xuất của Nhà máy Cốc Hóa, mạng lưới thoát nước và vùng dân cư lân cận thuộc phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập tài liệu thứ cấp giai đoạn 2009–2013; lấy mẫu nước thải sinh hoạt vào ngày 31/10/2013 (phân tích từ 31/10 đến 08/11/2013); lấy mẫu nước thải sản xuất vào ngày 10/04/2014 (phân tích từ 10/04 đến 18/04/2014); điều tra xã hội học hoàn thành trong năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa về môi trường, ô nhiễm nước và nước thải theo TCVN 5980-1995 và ISO 6107-1:1980. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước được phân loại theo hướng dẫn của ESCAP (1994), bao gồm các thông số lý học (nhiệt độ, pH), thông số hóa học (BOD, COD, NO3-, kim loại nặng) và thông số sinh học (Coliform).

Khung pháp lý áp dụng trong nghiên cứu gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (thông qua ngày 29/11/2005).
  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 (thông qua ngày 21/6/2012).
  • Nghị định số 149/2004/NĐ-CP, Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật: QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt), QCVN 24:2009/BTNMT (nước thải công nghiệp), QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp thay thế), TCVN 5945-2005 và TCVN 5942-1995.

Tác giả tổng hợp kinh nghiệm xử lý nước thải thực tế từ các mô hình trong và ngoài nước: công nghệ NEWater tại Singapore (kết hợp vi lọc UF, màng thẩm thấu ngược RO và khử trùng UV), công nghệ Nano VAST sử dụng vật liệu nanocomposite NC-F20 và NC-MF để hấp phụ asen và kim loại nặng (Viện Hóa học Việt Nam), cùng hệ thống tháp lọc sinh học giá thể đệm plastic kết hợp bể Aerotank tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (công suất 6.000 m³/ngày).

Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu địa chất từ báo cáo khảo sát của Liên đoàn Địa chất Thủy văn - Địa chất Công trình Miền Bắc (tháng 9/2009), số liệu từ Đề án bảo vệ môi trường Nhà máy Cốc Hóa (2013) và báo cáo kinh tế - xã hội phường Cam Giá.
  • Phương pháp lấy và bảo quản mẫu: Lấy 2 mẫu nước thải (1 mẫu trước xử lý và 1 mẫu sau xử lý) theo quy chuẩn TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-3:2008.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
STT Thông số phân tích Đơn vị Phương pháp tiêu chuẩn
1 pH - TCVN 6492:2011
2 BOD₅ mg/L TCVN 6001:2008
3 COD mg/L TCVN 4565:1998
4 TSS mg/L SMEWW 2540B
5 NH₄⁺-N mg/L TCVN 5988:1995
6 PO₄³⁻-P mg/L TCVN 6202:2008
7 Phenol mg/L SMEWW 5530 C
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phát phiếu khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 50 hộ dân sinh sống quanh khu vực nhà máy.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp: Đối chiếu số liệu đo đạc với các giới hạn quy chuẩn quốc gia.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc bảo vệ môi trường nước trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa tại Thái Nguyên. Giới thiệu tổng quan vị trí của Nhà máy Cốc Hóa thuộc Công ty Cổ phần Gang Thép Thái Nguyên, xác định mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và các yêu cầu kỹ thuật đối với số liệu điều tra.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Khái quát tình hình tài nguyên nước toàn cầu với các dẫn liệu của Korzun (1978) và Shiklomanov (1990), nêu bật thực trạng suy giảm nước ngọt và ô nhiễm hóa chất công nghiệp tại châu Âu, Hoa Kỳ. Phân tích hiện trạng ô nhiễm nước tại Việt Nam, đặc biệt là nước thải dệt nhuộm, giấy, nước thải tại cụm công nghiệp Tham Lương (TP. Hồ Chí Minh, 500.000 m³/ngày) và làng nghề kim loại Bắc Ninh. Nêu rõ mức độ ô nhiễm tại Hà Nội (xả 300.000 m³/ngày) và TP. Hồ Chí Minh (4.000 tấn rác/ngày, nhiều cơ sở y tế thiếu trạm xử lý).

Tại Thái Nguyên, tổng lượng rác sinh hoạt phát sinh trên 400 tấn/ngày nhưng tỷ lệ xử lý chỉ đạt khoảng 36%; môi trường đất khu vực Gang thép bị ô nhiễm kim loại nặng với hàm lượng Pb vượt chuẩn 2,8 lần, Zn vượt 46,6 lần; toàn tỉnh có 52 cơ sở gây ô nhiễm và 48 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng được khoanh vùng theo Đề án bảo vệ môi trường 2011–2015. Chương này cũng phân tích cơ chế công nghệ xử lý nước thải tiên tiến trên thế giới (NEWater Singapore) và Việt Nam (Nano VAST, KCN Việt Nam - Singapore).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định đối tượng nghiên cứu là kỹ thuật và quy trình xử lý nước thải tại nhà máy; địa bàn tại phường Cam Giá. Liệt kê 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm; mô tả chi tiết phương pháp lấy mẫu tại hiện trường (cửa xả sinh hoạt và cửa xả sản xuất), phương pháp bảo quản và 7 quy trình phân tích hóa lý trong phòng thí nghiệm; xác lập phương pháp phỏng vấn 50 hộ dân.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày chi tiết các số liệu thu thập và kết quả khảo sát thực tế:

1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và đặc điểm nhà máy:

  • Phường Cam Giá có diện tích 875,63 ha (đất nông nghiệp 524,92 ha, đất công nghiệp 338,79 ha), dân số 10.821 hộ, mật độ 1.210 người/km², tỷ lệ tăng dân số 1,22%. Hạ tầng giao thông gồm Quốc lộ 3, Quốc lộ 37 và đường Cách Mạng Tháng 8 với 95% đường bê tông hóa.
  • Thủy văn: Nước thải tiếp nhận vào suối Cam Giá (rộng 5–7 m, mực nước mùa khô 30–50 cm, mùa lũ 1–1,5 m, tốc độ dòng chảy 8,5 m/phút) rồi hợp lưu ra sông Cầu (lưu lượng mô-đun 22–24 L/s).
  • Địa chất công trình: Dữ liệu hố khoan LK15 thể hiện 6 lớp địa tầng, trong đó lớp 6 là đá gốc cát kết, bột kết, sét kết tuổi Trias ở độ sâu dưới 15 m có cường độ kháng nén khô 16,4 kg/cm² và bão hòa 10,4 kg/cm².
  • Cơ cấu tổ chức: Nhà máy có 669 cán bộ công nhân viên, gồm 4 phân xưởng trực thuộc (Than, Cốc, Hóa, Cán thép).

2. Hiện trạng sản xuất và dòng thải:

Quá trình Nguyên liệu đầu vào Số lượng Nguồn cung ứng Tên sản phẩm Sản lượng đầu ra
Luyện cốc Than mỡ 180.000 tấn/năm 80% mỏ Phấn Mễ, 20% nhập khẩu (Trung Quốc, Úc, Nga) Cốc luyện kim 140.000 tấn/năm
Điện 348.000 kWh/năm (1.055 kWh/ngày) Xí nghiệp Năng lượng (Trạm 110/35/6 kV) Khí than cốc 50.340.000 m³/năm
Cán thép Phôi thép 120x120 mm 7.000 tấn/năm Nhà máy Luyện thép Lưu Xá Thép chữ U, V (40–80 mm) 6.500 tấn/năm

Ngoài ra, quá trình thu hồi hóa sản tạo ra các sản phẩm phụ: Bitum (620 tấn/năm), Dầu phòng mục (1.166,3 tấn/năm), Dầu phòng mục sạch (931 tấn/năm), Nhựa đường (2.600 tấn/năm).

Chất thải phát sinh tại các phân xưởng gồm: vảy thép (30 tấn/năm), vón than lẫn dầu cốc (8,25 tấn/năm - được tái sử dụng làm nguyên liệu), bùn thải trạm xử lý phenol (20 kg/tháng, tương đương 220 kg/năm).

3. Hiện trạng và quy trình xử lý nước thải:

STT Nguồn nước thải Khu vực phát sinh Lưu lượng ngày Lưu lượng tháng Lưu lượng năm
1 Nước mưa chảy tràn Bãi than nguyên liệu 0,5 m³/s - -
Khu xử lý nước thải phenol 0,01 m³/s - -
2 Nước sinh hoạt 669 cán bộ nhân viên 53,5 m³/ngày 1.605 m³ 17.655 m³
3 Nước thải chứa phenol Thùng chứa dầu, tháp chưng, kho hóa chất 45 m³/ngày 1.350 m³ 14.850 m³
4 Nước làm mát & công nghệ Làm nguội khí cốc, làm mát thiết bị, xyclon 934,4 m³/ngày 28.032 m³ 308.352 m³
5 Nước cán thép Phân xưởng cán thép 720 m³/ngày 21.600 m³ 237.600 m³
6 Nước ngầm rò rỉ Hầm than (Phân xưởng Than) 3 m³/ngày 90 m³ 990 m³

Quy trình xử lý nước thải sản xuất:

  • Nước thải chứa phenol (40–45 m³/ngày) được thu gom đưa vào hệ thống xử lý sinh học bằng vi sinh vật. Nước sau xử lý vi sinh không xả trực tiếp ra môi trường mà được bơm cấp cho tháp dập cốc nóng đỏ (nhiệt độ 950–1050°C). Tại đây, nước bay hơi và được quạt hút qua hệ thống rửa khí/hấp thụ; phần nước ngưng tụ và dư thừa chảy về bể chứa để tiếp tục tuần hoàn dập cốc.
  • Nước làm mát gián tiếp thiết bị và nước làm nguội khí than qua tháp ống chùm (diện tích trao đổi nhiệt 750 m²/tháp) được đưa qua hệ thống giải nhiệt và tái tuần hoàn khép kín.
  • Nước tách từ bể lắng cơ giới và chưng dầu cốc được phân ly pha lỏng, tháo nước NH₃ về làm nguội khí than hoặc chuyển sang trạm xử lý phenol.
  • Nước thải sinh hoạt (53,5 m³/ngày) được dẫn vào hệ thống bể tự hoại trước khi thoát ra cống chung.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp hiện trạng công nghệ xử lý nước thải tại nhà máy; kiến nghị các giải pháp duy trì hiệu quả vận hành trạm vi sinh, tăng cường quản lý bùn cặn và nâng cao công tác quan trắc môi trường định kỳ.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã làm rõ toàn bộ cân bằng dòng thải lỏng và chất thải rắn phát sinh từ 4 phân xưởng sản xuất của Nhà máy Cốc Hóa:

  • Khẳng định nhà máy đã thiết lập chu trình xử lý tuần hoàn khép kín đối với dòng thải nguy hại nhất là nước thải chứa phenol (lưu lượng 45 m³/ngày, tương đương 14.850 m³/năm) bằng cách dùng vi sinh vật xử lý sơ bộ rồi đưa vào tháp dập cốc, triệt tiêu việc xả thải trực tiếp phenol ra suối Cam Giá.
  • Xác định tổng lưu lượng nước làm mát tuần hoàn lên tới 308.352 m³/năm và nước cán thép 237.600 m³/năm, đều được xử lý lắng cặn, giải nhiệt và tái sử dụng.
  • Định lượng các chất thải phát sinh: bùn hoạt tính từ trạm phenol chỉ ở mức 220 kg/năm do hàm lượng cặn thấp; vón than lẫn dầu cốc 8,25 tấn/năm được tái sử dụng toàn bộ làm nguyên liệu phối trộn; vảy thép 30 tấn/năm được thu hồi làm nguyên liệu luyện kim.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục duy trì và kiểm soát nghiêm ngặt các thông số vận hành của hệ thống vi sinh xử lý phenol để bảo đảm chất lượng nước dập cốc, tránh phát tán mùi hữu cơ bay hơi theo tháp dập.
  • Tăng cường nạo vét định kỳ hệ thống bể lắng cặn nước mưa chảy tràn tại khu vực bãi than (diện tích chứa trên 50.000 tấn than) nhằm hạn chế than cám và cặn lơ lửng trôi ra suối Cam Giá vào mùa mưa.
  • Nâng cao hiệu quả xử lý sơ bộ của hệ thống bể tự hoại đối với 17.655 m³/năm nước thải sinh hoạt của 669 công nhân viên.

Về mặt đóng góp, khóa luận cung cấp hệ thống số liệu kiểm toán chất thải chi tiết của một nhà máy luyện than cốc lâu đời tại Việt Nam, phản ánh quá trình chuyển biến từ một cơ sở thuộc danh sách gây ô nhiễm sang mô hình tái tuần hoàn dòng thải công nghiệp.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:

  • Số lượng đợt lấy mẫu phân tích còn ít (1 đợt mẫu nước thải sinh hoạt tháng 10/2013 và 1 đợt mẫu nước thải sản xuất tháng 04/2014), chưa phản ánh đầy đủ biến thiên nồng độ ô nhiễm theo các chu kỳ sản xuất và điều kiện thời tiết khác nhau (mùa mưa và mùa khô).
  • Dữ liệu khảo sát người dân giới hạn trong phạm vi 50 hộ gia đình, chưa bao quát toàn bộ vùng ảnh hưởng hạ lưu suối Cam Giá và lưu vực sông Cầu tiếp nhận dòng chảy.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng tần suất quan trắc tự động định kỳ đối với các chỉ tiêu đặc thù (phenol, COD, NH₄⁺) trong nước dập cốc tuần hoàn và khí thải sau tháp dập.
  • Nghiên cứu đánh giá mức độ tích tụ kim loại nặng và hợp chất hữu cơ vòng thơm trong trầm tích đáy suối Cam Giá tại điểm xả cống chung của nhà máy.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Công nghệ Luyện kim.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản là các sơ đồ công nghệ kèm theo dòng thải chi tiết của từng phân xưởng (Phân xưởng Than, Phân xưởng Cốc, Phân xưởng Hóa, Phân xưởng Cán thép) cùng bảng tổng hợp lưu lượng, nguồn gốc và phương thức tuần hoàn của 6 dòng thải nước trong nhà máy sản xuất than cốc quy mô 140.000 tấn sản phẩm/năm.


Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nguyên liệu than mỡ phục vụ cho quá trình sản xuất của Nhà máy Cốc Hóa được cung ứng từ đâu và với khối lượng bao nhiêu?
Nhà máy tiêu thụ khoảng 180.000 tấn than mỡ sạch mỗi năm. Trong đó, nguồn than nội địa chiếm 80% được khai thác từ mỏ than Phấn Mễ (Thái Nguyên), 20% còn lại là than nhập khẩu từ các quốc gia gồm Trung Quốc, Úc và Nga. Kho chứa của nhà máy có dung tích trên 5 vạn tấn, bảo đảm nguyên liệu vận hành trong 3 đến 4 tháng.

2. Dòng nước thải chứa hợp chất phenol nguy hại phát sinh từ những công đoạn nào và lưu lượng là bao nhiêu?
Nước thải chứa phenol phát sinh từ các thiết bị thùng chứa dầu cốc, tháp chưng cất, khu vực chế biến dầu cốc và kho hóa chất tại Phân xưởng Hóa, với lưu lượng dao động từ 40 đến 45 m³/ngày (trung bình 1.350 m³/tháng, tương đương 14.850 m³/năm).

3. Quy trình kỹ thuật xử lý và tiêu thoát nước thải chứa phenol tại nhà máy diễn ra như thế nào?
Toàn bộ nước thải chứa phenol được thu gom dẫn vào hệ thống xử lý sinh học bằng vi sinh vật. Sau khi xử lý bằng vi sinh vật, lượng nước này được bơm trực tiếp lên dàn phun của tháp dập để dập tắt cốc nóng đỏ (950–1050°C). Quá trình dập cốc làm bốc hơi một phần nước (được xử lý qua hệ thống rửa khí/hấp thụ), phần nước dư được lắng cặn và làm mát tự nhiên trong bể chứa rồi tái tuần hoàn hoàn toàn cho các chu kỳ dập cốc tiếp theo, không xả thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài.

4. Ngoài than cốc, nhà máy còn thu hồi và sản xuất những sản phẩm hóa sản và phụ trợ nào?
Dây chuyền công nghệ của nhà máy sản xuất 140.000 tấn cốc luyện kim/năm, 50,34 triệu m³ khí than lò cốc/năm, 6.500 tấn thép cán hình chữ U, V/năm. Các sản phẩm hóa sản thu hồi gồm: 620 tấn bitum/năm, 1.166,3 tấn dầu phòng mục/năm, 931 tấn dầu phòng mục sạch/năm và 2.600 tấn nhựa đường/năm.

5. Lượng chất thải rắn phát sinh tại các phân xưởng được định lượng và quản lý như thế nào?
Chất thải rắn gồm có 30 tấn vảy thép/năm từ phân xưởng cán (thu hồi làm nguyên liệu luyện thép), 8,25 tấn vón than lẫn dầu cốc/năm từ khâu chưng cất dầu cốc (được tái sử dụng làm nguyên liệu phối trộn luyện cốc), và khoảng 220 kg bùn thải/năm (20 kg/tháng) từ trạm xử lý nước thải phenol.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Thị Anh đã hoàn thành việc mô tả và đánh giá thực trạng hệ thống xử lý nước thải tại Nhà máy Cốc Hóa Thái Nguyên. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ quy trình công nghệ sản xuất cốc, cân bằng vật chất và lưu lượng phát sinh của 6 nguồn nước thải chính, đặc biệt là cơ chế xử lý sinh học kết hợp tuần hoàn dập cốc đối với nước thải chứa phenol. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn phản ánh nỗ lực kiểm soát ô nhiễm và tái sử dụng nước của doanh nghiệp luyện kim trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.