Đặt vấn đề Xu hướng phát triển kinh tế chung trên thế giới hiện nay là ưu tiên phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa. Việt Nam cũng không năm ngoài xu hướng chung đó. Với chủ trương phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa và đưa nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển, Việt Nam đã và đang xây dựng một nền công nghiệp lớn mạnh với nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Những lợi ích của công nghiệp hóa mang lại được thể hiện rất rõ trong sự phát triển kinh tế, sự phát triển của xã hội, văn hóa, giáo dục.
Lào cai là một tỉnh khá phong phú về tài nguyên khoáng sản, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện trên 150 mỏ và điểm mỏ với hơn 35 loại khoáng sản khác nhau. Các loại khoáng sản đã và đang được đầu tư khai thác, chế biến chủ yếu gồm: Apatit, đồng, sắt, chì, kẽm, vàng, cao lanh và vật liệu xây dựng. Trong đó, có một số loại khoáng sản có quy mô và trữ lượng lớn nhất cả nước, như quặng apatit với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, quặng sắt với trữ lượng 136,7 triệu tấn, quặng đồng trữ lượng 100 triệu tấn, secpentin trữ lượng 21 triệu tấn, graphit trữ lượng 17 triệu tấn, cao lanh, feldspat trữ lượng 20 triệu tấn,… Trong số các ngành công nghiệp trọng điểm đã và đang phát triển trên toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng thì ngành công nghiệp khai thác đồng là ngành kinh tế quan trọng của nước ta, đồng được sử dụng với rất nhiều công dụng là làm chất dẫn nhiệt và điện, vật liệu xây dựng và thành phần của các hợp kim của nhiều kim loại khác nhau như: Làm dây điện, động cơ điện, tay nắm hay các đồ vật khác trong xây dựng nhà cửa… Đáng chú nhất là Công ty Mỏ - Tuyển đồng Sin Quyền là một mỏ đồng lớn nhất khu vực Đông Nam Á có công suất lớn 1,2 triệu tấn/năm. Hiện nay được tăng cường hợp tác và ngày càng được mở rộng với tổng mức đầu tư 2.600 tỷ đồng bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Vimico và vốn vay Eximbank.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường.Trong Quá trình khai thác, chế biến khoáng sản đã làm phá vỡ cân bằng điều kiên sinh thái tự nhiên gây ô n 2 nhiễm môi trường đất, nước, không khí… Hàm lượng các kim loại nặng và chất rắn lơ lửng trong nước thải cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Nước thải từ khai trường nói chung đều được xả thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua xử lý. Nước thải từ tuyển khoáng được thải vào khu vực riêng (hồ thải quặng đuôi) và được xử lý sơ bộ thông qua các hồ lắng trước khi thải ra ngoài môi trường.Tại nhiều mỏ, nước thải sau khi lắng được tuấn hoàn trở lại cho quá trình sản xuất, có nơi tỷ lệ tuần hoàn lên tới 80%. Vì vậy, việc đánh giá, lựa chọn công nghệ xử lý nước thải cho các mỏ đồng đang được áp dụng hiện nay là một vấn đề rất cần thiết đối với các cơ sở khai thác lộ thiên cũng như các cấp quản lý.
Chính vì những lý do trên đề tài “Đánh giá hiệu quả công nghệ xử lý nước thải Công ty mỏ - tuyển đồng Sin Quyền huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” được thực hiện. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Xác định mức độ ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm nước thải. - Tìm hiểu về phương pháp xử lý nước thải của Mỏ.
- Đánh giá hiệu quả công nghệ xử lý nước thải Công ty mỏ - tuyển đồng Sin Quyền. Yêu cầu - Thông tin, số liệu thu thập được phải chính xác, trung thực, khách quan. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học, đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước thải của công ty.
- Các kết quả phân tích phải được so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường Việt Nam. - Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện của nhà máy. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao kiến thức thực tế. n 3 - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ xung tư liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định nguồn gây ô nhiễm và mức độ ô nhiễm nước thải.
- Đánh giá được hàm lượng các chất có trong nước thải sau xử lý so với QCVN. - Đánh giá hiệu quả công nghệ xử lý nước thải Công ty mỏ - tuyển đồng Sin Quyền từ đó có thể đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý, nâng cao chất lượng môi trường khu vực mỏ. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các nguồn gây tác động đến môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản 2.
Nguồn gây tác động đến môi trường không khí và bụi Trong quá trình khai thác khí thải phát sinh từ hoạt động khai thác, vậnchuyển, lưu trữ nguyên liệu, sản phẩm, các hoạt động giao thông vận tải và mộtsố hoạt động liên quan khác. Cụ thể như sau: - Khí thải từ công nghệ khai thác + Bụi và các chất ô nhiễm do khoan, nổ mìn, ủi tạo đống quặng để đưa vào chế biến + Tiếng ồn, độ rung phát sinh từ hoạt động nổ mìn, của máy xúc, ô ủi, xe ben vận chuyển. Các quá trình hoạt động chế biến quặng cũng có khả năng phát sinh lượng bụi rất lớn. Công nhân làm việc tại công trường khai thác sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những tác động của bụi và mức ồn, rung nêu trên.
- Khí thải từ hoạt động giao thông vận tải Trong quá trình khai thác, hàng ngày sẽ diễn ra các hoạt động giao thông vận tải chuyên chở các loại nguyên - nhiên - vật liệu và sản phẩm cùng các loại phươngtiện đi lại của công nhânra khai trường sẽ làm phát sinh khí thải như bụi, SOx,NOx, CO,. Tải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải phụ thuộc vào số lượngvà mật độ xe lưu thông, vào loại nhiên liệu sử dụng, tình trạng kỹ thuật củaphương tiện giao thông và chất lượng đường giao thông. Bên cạnh đó, các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm ra vào khai trường như xe gắn máy của công nhân,… cũng góp phần làm tăng mức ồn tại khu vực. - Khí thải từ các hoạt động khác: Các hoạt động khác như thu gom, tồn trữ, vận chuyển rác thải cũng sinh ra các khí ô nhiễm như: bụi, CO, NOx, SOx, mùi hôi… n 5 2.
Nguồn gây tác động đến môi trường nước Trong quá trình hoạt động, các nguồn phát sinh nước thải bao gồm: - Nước thải sản xuất: chủ yếu là nước sau khi tách ra khỏi dòng quặng thô có chứa chất rắn lơ lửng và một số kim loại nặng (Zr, Ti, Cu, Fe.) - Nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên: nước thải sinh hoạt phát sinh do hoạt động của cán bộ công nhiên viên làm việc tại khai trường có chứa các chất cặn bã, các chất rắn lơ lửng, các chất dinh dưỡng, chất hữu cơ, vi sinh vật. - Nước mưa chảy tràn và nước tháo khô khai trường - Dòng thải axit mỏ 2. Nguồn gây tác động đến môi trường đất Do đặc thù của việc khai thác khoáng sản nên mối quan tâm ở đây được hướng vào các nguyên tố kim loại độc hại có thể xâm nhập vào trong đất do công nghệ khai thác mỏ gây ra. Môi trường đất sẽ bị ô nhiễm bởi các nguyên tố lim loại như đồng, sắt, canxi, than.
do đặc thù của từng mỏ, vôi và thuốc tuyển vương vãi vào trong đất. ngoài ra còn có các nguồn tác động khác gây ảnh hưởng đến môi trường đất như là: - Đất đá thải trong quá trình khai thác mỏ. - Đất đá thải trong quá trình tuyển. - Rác thải sinh hoạt.
Có nguy cơ gây nên xói mòn do: - Địa hình dốc - Việc khai tác mỏ được hoạt động trôn một diện tích rộng và hệ số bóc lớn - Một số khu vực là đất trống, tỷ lệ che phủ thấp. Tình hình khai thác khoáng sản và các tác động đến môi trường từ khai thác khoáng sản ở Lào cai 2. Tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam - Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ và khai thác quy mô vừa.
n 6 - Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản với trên 5000 điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, phần lớn các mỏ đều nằm ở vùng xâu vùng xa không thuận lợi về giao thông. Nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát). - Ngành khai khoáng Việt Nam ngày càng được chú trọng và chiếm 4,81% thu nhập quốc dân (GDP) 1995 đã tăng khoảng 9,65% - 10,95% trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay. - Tỷ lệ xuất khẩu khoáng sản ở Việt Nam tương đối cao.
Tính riêng 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu quặng và khoáng sản tăng trưởng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm trước, tăng lần lượt 100,86% và tăng 3,11% tương đương với 1,4 triệu tấn, trị giá 140,5 triệu USD. Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 91,2% lượng quặng và khoáng sản, với 1,2 triệu tấn, trị giá 101,7 triệu USD, tăng 129,29% về lượng và tăng 28,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Kế đến là thị trường Nhật Bản, với 20,7 nghìn tấn, trị giá 12,1 triệu USD, giảm 17,88% về lượng và giảm 36,85% về trị giá. Thị trường xuất khẩu chủ yếu đứng thứ ba là Malaysia với 15,9 nghìn tấn, trị giá 4,3 triệu USD, tăng 61,97% về lượng và tăng 31,59% về trị giá so với cùng kỳ.
Các số liệu trên cho thấy, công nghiệp khai thác khoáng sản của Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc gia.