CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN KHU CÔNG NGHIỆP CÁI LÂN 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Khu công nghiệp Cái Lân nằm bên bờ vịnh Cửa Lục thuộc thành phố Hạ Long, thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh.
Thành phố Hạ Long có vị trí địa lý tại đỉnh Tây Bắc vịnh Bắc Bộ, vào khoảng 200 vĩ độ Bắc và 1030 kinh độ Đông, phía Bắc là vùng đồi núi với các mỏ than vùng Cẩm Phả, Hòn Gai cùng dãy núi đá vôi Hoành Bồ. Phía Nam là Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Thành phố Hạ Long được hợp thành từ hai khu vực Hòn Gai và Bãi Cháy, ngăn cách bởi Vịnh Cửa Lục. Điều kiện khí hậu Khí hậu khu công nghiệp Cái Lân thuộc khí hậu vùng thành phố Hạ Long mang đặc tính của khí hậu phía Bắc Việt Nam và đặc trưng cho khí hậu ven biển Quảng Ninh.
Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,70 C, dao động không lớn, từ 16,70C đến 28,60C. Về mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,90C, nóng nhất đến 380C. Về mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp là 13,70C, khi lạnh nhất là 50C.
Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố không đều theo 2 mùa. Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80- 85% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm. Mùa đông là mùa khô, ít mưa, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15- 16 20% tổng lượng mưa cả năm.
Lượng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40 mm. Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84%. Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất có tháng xuống đến 68%. Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè.
Tốc độ gió trung bình là 2,8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s. Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11. Địa hình Thành phố Hạ Long nằm trong vùng duyên hải Quảng Ninh.
Mặc dù có chiều dài và diện tích không lớn song địa hình khá đa dạng. Địa hình Karst khá phổ biến, chúng có hình thái đặc biệt, vách dựng đứng, nhiều hang động lớn, nhiều hẻm sâu, trên hàng nghìn hòn đảo nhỏ trong vịnh Hạ Long tạo cho Hạ Long một phong cảnh kì vĩ có biển và núi quyện vào nhau hiếm có trên thế giới. Địa hình Karst còn phổ biến ở phía Bắc thành phố (Khu vực Dương Huy - Quảng La). Địa hình núi thấp chạy song song với bờ biển kéo dài theo hướng Đông Tây.
Độ cao trung bình 300÷400m, sườn dốc góp phần làm cho phong cảnh Hạ Long thêm kì vĩ và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một thành phố du lịch. Địa hình thung lũng hẹp và vòng cung chạy song song với bờ biển cùng với vịnh Cửa Lục tạo thuận lợi cho việc xây dựng đường giao thông và vận 17 chuyển than cũng như các sản phẩm khác mà không ảnh hưởng đến phong cảnh và các hoạt động khác của thành phố. Đặc biệt trong vùng còn có một dạng địa hình mới : Đó là địa hình nhân sinh. Vùng Hòn Gai – Cẩm Phả là vùng khai thác than quan trọng của đất nước, trong vùng có 6 mỏ lộ thiên với tổng diện tích mở moong là 1518 ha, diện tích bãi thải 1326 ha.
Do khai thác lâu nên các moong khá sâu, lượng đất thải rất lớn (gần 200 tỷ m3 ), đã lấp một khu vực rộng trước đây bị ngập nước do thuỷ triều và các núi đất đá thải cao hàng trăm mét, độ dốc sườn 40÷450. Các đặc điểm địa hình nêu trên không tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ nước nhạt dưới đất. Địa hình Karst nằm sát biển đã tạo điều kiện thuận lợi cho nước biển xâm nhập vào các công trình khai thác nước và thực tế cho thấy trong các thành tạo Cacbonat ở đây có mức độ chứa nước tốt song nước bị mặn không thể dùng để cấp nước được. Địa hình núi thấp khá dốc, lại bị phân cắt mạnh nên hạn chế nước mưa ngấm xuống bổ sung cho lượng nước dưới đất.
Các thung lung hẹp tích tụ thêm cũng không thuận lợi cho quá trình tích trữ nước ngầm. Địa hình nhân sinh có tác dụng làm biến đổi thành phần hoá học của nước dưới đất. Đặc điểm thủy văn Quảng Ninh là một tỉnh ven biển có mật độ mạng sông suối lớn (từ1 ÷ 2 km/km2) nhưng các sông đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn. Các lưu vực sông đều nhỏ, không có lưu vực nào trên 300 km2.
Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hè lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3 /s, chênh nhau 1. 18 Thành phố Hạ Long có bốn sông chính chảy qua địa phận là sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man, Trới; cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long.
Tại các phường Hòn Gai, Hà Tu, Hà Phong có nhiều con suối chảy dọc sườn núi phía nam. Cả sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều. Vì địa hình dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển cũng nhanh. Các đặc điểm nêu trên cho thấy nguồn nước cấp chủ yếu cho thành phố Hạ Long là nước mặt từ hệ thống sông suối trong vùng.
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô.
Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình Karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Vùng thành phố Hạ Long có bờ biển khá dài (không kể các bờ biển), toàn vùng phía Đông, Nam của vùng giáp biển, vịnh Cửa Lục ăn sâu vào đất liền chia cắt thành phố Hạ Long thành 2 phần, càng làm cho chiều dài bờ biển tăng nên. Vùng biển Hạ Long có chế độ nhật triều đều, mỗi ngày có một lần nước cao, một lần nước thấp với hầu hết các ngày trong tháng. Kì nước cường trung bình độ lớn triều khoảng 2,6÷3,6m.
Trong năm triều mạnh vào các tháng 1, tháng 6, tháng 7 và tháng 12. Nước yếu vào các tháng 3, 4, 8 và tháng 9. Biên độ triều lớn nhất trong chu kì triều 19 năm tại Hòn Gai đạt 435(cm), nhỏ hơn ở Cửa Ông 440(cm) thuộc vùng có biên độ triều lớn nhất 19 Việt Nam, đạt tới 5m. Do vùng Hạ Long có nhiều đảo nên chế độ triều lưu rất phức tạp.
Tốc độ dòng triều khá lớn, tại Bãi Cháy nước biển chảy vào vịnh Cửa Lục có thể đạt tới 150 cm/s. Nhiệt độ nước biển ở lớp bề mặt trung bình là 18 0C đến 30,80C, độ mặn nước biển trung bình là 21,6% (vào tháng 7) cao nhất là 32,4% (vào tháng 2 và 3 hàng năm). Nước biển Hạ Long có độ mặn không cao 25 0/ 00 thành phần Natri Clorua, hàm lượng Br từ 21÷31 (mg/l). Khi triều lên nhiều bãi sú, vẹt bị ngập mặn chắc chắn có tác động đến nước ngầm vùng ven biển.
Nước ngầm vùng sát biển đều bị mặn, đó cũng là lý do làm cho một số lỗ khoan khai thác nước ngầm ở vùng này bị mặn sau một thời gian không lâu. Đặc điểm dân cư, kinh tế, xã hội - Với tổng diện tích 6.102,4 km2 và là tỉnh cửa ngõ giáp biên thì mật độ dân số của tỉnh tập trung khá đông. Theo “Niên giám thống kê năm 2010” dân số tỉnh Quảng Ninh là 1. Trong đó Thành phố Hạ Long có số dân cao nhất: 222.
Mật độ dân số trung bình của thành phố vào khoảng 817 ng ười/km 2. Với vị trí quan trọng ở cửa ngõ Đông Bắc Việt Nam, nơi đây có đủ điều kiện để phát triển kinh t ế, xây dựng thành một thành phố công nghiệp và du lịch hiện đại. - Trước hết là khả năng phát triển du lịch. Đây là một vùng có cảnh quan Karst nhiệt đới hấp dẫn.
Nhưng khác với cảnh quan Karst khác ở khu vực (như ở Trung Quốc), các hình thái Karst lại nằm sát bờ biển, ngay trên vịnh Hạ Long tạo nên một danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thu hút khách du lịch quốc tế. 20 - Một thế mạnh của thành phố Hạ Long là các cảng biển, ngoài vị trí các cảng biển nước sâu, cảng Cái Lân còn có năng lực tiếp nhận tàu trọng tải 30.000 (tấn/năm) là có khả năng trở thành hiện thực. Ngoài ra còn một số tập đoàn cảng khác góp phần thúc đẩy công nghiệp, thương mại và du lịch phát triển ở vùng trọng điểm ven biển này. - Tài nguyên khoáng sản đã được phát hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh rất phong phú và đa dạng, có 140 mỏ và điểm quặng thuộc nhiều loại như than đá, đá vôi, cát thủy tinh, sét, cao lanh, pirofilit.
nhưng nhiều và lớn nhất là than đá và đá vôi làm vật liệu xây dựng. - Hiện nay thành phố Hạ Long đang có những yêu cầu bức xúc về phát triển kinh tế - xã hội với các ngành mũi nhọn như du lịch, công nghiệp, thương mại. Việc phát triển kinh tế không thể tách rời việc bảo vệ môi trường. Những dấu hiệu về sự suy thoái và ô nhiễm môi trường đã đến lúc cần phải quan tâm một cách triệt để.
Giới thiệu về khu công nghiệp Cái Lân 1. Thông tin chung Khu công nghiệp Cái Lân - Quảng Ninh được Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập tại Quyết định số: 578-TTg ngày 2/7/1997. Dự án đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Cái Lân (giai đoạn I) có diện tích 78 ha; tổng mức đầu tư theo dự án là 133.