Chương I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TINH BỘT Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TINH BỘT SẮN TRÊN THẾ GIỚI. Sắn là một loại cây lương thực quan trọng ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là ở các nước nhiệt đới Châu Á, Châu Phi, và Châu Mỹ La tinh. Cùng với sự phát triển của công nghiệp chế biến cây sắn ngày càng trở nên có giá trị kinh tế cao.
Hiện nay, có trên 100 nước trồng sắn với diện tích khoảng 16 triệu ha tập trung ở Châu Phi 57%, Châu Á 25% và Châu Mỹ latinh 18% với tổng sản lượng 155 ÷ 170 triệu tấn/năm. Những nước trồng nhiều nhất là Brazil, Nigerria, Indonesia và Thái Lan. Ở châu Phi sắn luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực, trung bình sắn được sử dụng tới 96 kg/người /năm. Trên thế giới mức tiêu thụ là 18kg/người /năm.
Khoảng 85% sản lượng sắn tiêu thụ ở các nước trồng (trong đó 58% được sử dụng làm lương thực, 28% thức ăn gia súc, 3% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp,.), 15% sản lượng còn lại xuất khẩu sang các nước Châu Âu, một số nước Châu Á và Nhật Bản dưới dạng tinh bột sắn, tapioca và sắn lát khô [2]. Khi phân chia sản lượng sắn theo các lục địa, tổ chức Lương thực thế giới (FAO) ước tính sản lượng sắn ở Châu Phi năm 2000 là 92,7 tăng không đáng kể so với năm 1999. Mặc dù ở châu lục này sắn được trồng ở 39 quốc gia song có tới 70% sản lượng sắn được trồng ở Nigeria, Công gô và Tanzania. Sắn hiện nay đã trở thành nguồn lương thực chủ yếu cho các nước trong khu vực, được dự trữ làm nguồn lương thực trong những tình trạng khẩn cấp, đặc biệt khi có chiến tranh và hạn hán.
Ngô Minh Công – Lớp Cao học KTMT- Khóa 2007 - 2009 Luận văn Thạc sỹ 4 Viện KH & CN Môi Trường Khu vực Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê: Theo ước tính thì sản lượng sắn của vùng chiếm 20% sản lượng sắn toàn cầu. Năm 2000 toàn khu vực có sản lượng sắn 32,1 triệu tấn, tăng 10% so với năm 1999 có được chủ yếu do sự mở rộng thêm diện tích trồng sắn và áp dụng kỹ thuật tiến tiến trong quá trình tưới tiêu. Trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của Brazil nước chiếm 70% tổng sản lượng sắn toàn khu vực đã tăng thêm 12% tổng diện tích trồng sắn trong năm 2000. Giá sắn tăng cao đã khuyến khích người sản xuất mở rộng qui mô và diện tích trồng sắn.
Ở Châu Á sản lượng sắn năm 1999 là 50,9 triệu tấn còn năm 2000 là 50,5 triệu tấn, giảm ít so với năm 1999 (giảm 0,4 triệu tấn), chủ yếu là giảm sản lượng sắn ở Indonesia và Thái Lan (Thái Lan có sản lượng sắn cao nhất trong khu vực mỗi năm thu hoạch 17,7 ÷ 19,1 triệu tấn) [3]. Nguyên nhân của sự suy giảm này là do sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng của một số nông dân Thái Lan từ trồng sắn sang trồng mía. Tuy nhiên nhờ sự can thiệp rộng của chính phủ sản lượng bột sắn và sắn viên chỉ giảm xuống khoảng 1,3%, trong khi sản lượng sắn củ cần thay đổi là khoảng 0,8%. Hậu quả của sự suy giảm sản lượng sắn chỉ là 0,5%.
ở Indonesia sự suy giảm là 4% do được mùa về gạo nên mức tiêu thụ sắn trong nước cho các nhu cầu sinh hoạt cũng như công nghiệp đều giảm. Ngược lại, ở Việt Nam, sản lượng sắn tăng 13%, ấn độ tăng 2%, và thay đổi không đáng kể ở các nước khác. Năm 2006 và 2007, sản lượng sắn thế giới đạt 226,34 triệu tấn củ tươi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu tấn. Nước có sản lượng sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn).
Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008) [4]. Ngô Minh Công – Lớp Cao học KTMT- Khóa 2007 - 2009 Luận văn Thạc sỹ 5 Viện KH & CN Môi Trường Khả năng thu lợi cao từ việc xuất khẩu bột và tinh bột sắn khiến các nước xuất khẩu chủ yếu sẽ thay các giống sắn truyền thống bằng các giống sắn mới cho năng suất cao, hàm lượng tinh bột lớn thích hợp với chế biến công nghiệp. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu ở trong cũng như ngoài nước đang gia tăng. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TINH BỘT SẮN TẠI VIỆT NAM Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ 3 trên thế giới, sau Indonesia và Thái Lan.
Năm 2006, diện tích đất trồng sắn đạt 475.000 ha, được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh. Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Sản lượng tinh bột sắn đạt 7. Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan.
Cùng với diện tích sắn được nâng lên, năng suất thu hoạch sắn cũng như sản lượng tinh bột sắn được sản xuất cũng tăng lên theo thời gian. Hình 1 mô tả tốc độ tăng trưởng về diện tích trồng sắn, năng suất và sản lượng tinh bột sắn của Việt nam. Theo hình 1, tốc độ phát triển của sản lượng tinh bột sắn cao hơn gấp nhiều lần so với sự gia tăng của diện tích trồng sắn [1].000 tÊn) N¨ng suÊt (100 tÊn/ ha) Hình 1. Biểu đồ tăng trưởng diện tích, năng suất và sản lượng tinh bột sắn ở nước ta.
Ngô Minh Công – Lớp Cao học KTMT- Khóa 2007 - 2009 Luận văn Thạc sỹ 6 Viện KH & CN Môi Trường Ngoài tinh bột sắn, các sản phẩm được chế biến từ sắn gồm cồn, rượu, bột ngọt, axit glutamic, axit amin, các loại si rô maltoza, glucoza, fructoza, tinh bột biến tính, maltodextrin, các loại đường chức năng, thức ăn gia súc, phân bón hữu cơ… Từ đầu năm đến nay, sắn là một trong ít các mặt hàng có khối lượng xuất khẩu cũng như kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh. Theo số lượng thống kê sơ bộ trong 7 tháng đầu năm 2009, cả nước đã xuất khẩu được 2,66 triệu tấn sắn và tinh bột sắn, đạt kim ngạch 408 triệu USD, tăng 4,4 lần về sản lượng và tăng 2,8 lần về kim ngạch so với cùng kỳ 2008 [5]. Trong những năm gần đây, năng lực sản xuất và biến sắn của Việt Nam đã có bước tiến bộ đáng kể. Năm 2008 diện tích trồng sắn của nước ta đã tăng mạnh từ 270.000 ha, sản lượng ước đạt hơn 8 triệu tấn, tăng 2,3% so với năm ngoái nhưng tăng gần gấp đôi so với 3 năm trước.
Đáng chú ý là diện tích tăng vượt 135 nghìn ha so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010. Năng suất những năm vừa qua cũng tăng, mặc dù không nhiều, từ 15,35 tấn/ha năm 2005 (trung bình của thế giới là 12,16 tấn/ha) lên 15,7 tấn/ha năm 2008 nhưng vẫn thấp so với Ấn Độ (31,43 tấn/ha), Thái Lan (21,09 tấn/ha). Sản lượng cả năm 2009 ước đạt 8,1 đến 8,6 triệu tấn, cao hơn năm ngoái khoảng 0,2 đến 0,4 triệu tấn. Với tỷ trọng sắn cho xuất khẩu khoảng 48,6%, dùng làm thức ăn gia súc 22,4%, chế biến thủ công 16,8%, chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi thì khối lượng cho xuất khẩu năm nay của Việt Nam vào khoảng 4 triệu tấn.
6 tháng đầu năm 2009, Việt Nam đã xuất được 2,4 triệu tấn sắn (trọng đó đã bao gồm một lượng lớn tồn kho của năm 2008 chuyển sang). Với nguồn cung vụ mới được bổ sung vào cuối năm, dự báo cả năm nay Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 4,6 - 5 triệu tấn sắn, tương đương khối lượng xuất khẩu 5 tháng cuối năm khoảng 1,8 - 2,3 triệu tấn [5]. Nhiều nhà máy chế biến sắn ở trong nước cũng được xây dựng. Trên Ngô Minh Công – Lớp Cao học KTMT- Khóa 2007 - 2009 Luận văn Thạc sỹ 7 Viện KH & CN Môi Trường phạm vi cả nước, có khoảng 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn có quy mô công nghiệp với tổng công suất chế biến mỗi năm hơn nửa triệu tấn tinh bột sắn, tương ứng với nhu cầu sử dụng gần 2,5 triệu tấn củ sắn tươi, bằng 30% sản lượng cả nước, tăng gấp đôi số nhà máy và gấp 3 về công suất so với 5 năm trước đây [5].
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khoảng 40 - 45% sản lượng sắn dành cho chế biến quy mô lớn, hay còn gọi là quy mô công nghiệp, 40 - 45% sản lượng sắn dành cho chế biến tinh bột ở qui mô nhỏ và vừa, dùng để sản xuất các sản phẩm sắn khô, chế biến thức ăn chăn nuôi và 10 - 15% dùng cho ăn tươi và các nhu cầu khác.1: Một số nhà máy sản xuất tinh bột sắn qui mô lớn ở Việt Nam [3]. Công suất STT Tên Nhà máy Thuộc tỉnh (tấn/ngày) B 6 1 Long Thành Đồng Nai 200 2 Vedan Bình Phước 300 3 Tân Châu – Singapore Tây Ninh 80 4 Tây Ninh Tapioca Tây Ninh 120 5 Nhà máy tinh bột sắn KMC Bình Phước 100 6 An Giang An Giang 70 7 Phú Yên Phú Yên 50 8 Việt-Thái Gia Lai 50 9 Quảng Ngãi Quảng Ngãi 50 10 Đà Nẵng Đà Nẵng 50 11 Malaisia Tây Ninh 100 12 Nhà máy sắn Việt Nam Tây Ninh 100 13 Tập đoàn AW Bình Phước 70 14 Nước Trông Tây Ninh 60 15 Bàng Na-Bình Thuận Bình Phước 50 16 Đaklak Đaklak 40 Ngô Minh Công – Lớp Cao học KTMT- Khóa 2007 - 2009 Luận văn Thạc sỹ 8 Viện KH & CN Môi Trường 17 Liên doanh Hàn Quốc-Tây Ninh Tây Ninh 100 18 Quảng Bình Quảng Bình 100 19 Nghệ An Nghệ An 60 20 Thanh Hoá Thanh Hoá 60 21 Huế Huế 120 22 Văn Yên Yên Bái 50 Sản phẩm của các doanh nghiệp này là tinh bột sắn cao cấp, có giá trị xuất khẩu cao. Các công ty này thường được trang bị bằng công nghệ tiên tiến, nhập từ các nước chế biến sắn hàng đầu như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan. Sắn được chế biến hoàn toàn bằng máy do đó việc chế biến tinh bột sắn từ sắn củ tươi trở nên rất hiệu quả.
Cùng với sự đầu tư này đã làm tăng đáng kể sản lượng tinh bột sắn. Đặc thù sản xuất Hiện nay ở Việt nam có rất nhiều loại hình chế biến sắn, tuỳ thuộc vào qui mô công nghệ, vốn, lao động.