phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng Thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng Thƣơng mại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về nợ xấu (NPLs) Theo định nghĩa chính thức của IMF, một khoản nợ đƣợc xác định là nợ xấu khi việc chi trả tiền lãi và/hoặc gốc quá hạn từ 91 ngày trở lên, hoặc ít nhất 90 ngày kể từ ngày tiền lãi đã đƣợc vốn hóa, hoặc nợ đƣợc gia hạn hoặc việc thanh toán dòng tiền trễ hạn dƣới 90 ngày nhƣng có những lý do xác đáng để nghi ngờ khả năng thanh toán đầy đủ. Tại Việt Nam, nợ xấu theo khoản 6 điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành kèm theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt Nam là “các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dƣới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4), và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5)”. Nợ xấu (hay còn gọi là nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi) có các đặc trƣng sau:1 Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng (trả lãi, vốn gốc) theo đúng thời hạn quy định Ngân hàng không thể thu nợ (bao gồm lãi và/hoặc gốc) từ khách hàng do nhiều nguyên nhân (tình hình tài chính của khách hàng giảm, khách hàng bỏ trốn…) Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) đƣợc định giá có giá trị bảo đảm không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
Về thời gian các là các khoản nợ quá hạn có thời hạn ít nhất là 91 ngày 1 Giáo trình Quản trị Ngân Hàng Thƣơng Mại, Trần Huy Hoàng, 2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân loại nợ xấu Nếu căn cứ vào tài sản đảm bảo: nợ xấu của ngân hàng có thể chia thành các nhóm nhƣ sau:1 Nợ xấu có tài sản đảm bảo: Nợ tồn đọng ngân hàng đã thu giữ tài sản dƣới hình thức gán, xiết nợ; Nợ tồn đọng ngân hàng chƣa thu giữ tài sản nhƣ nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử, nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 360 ngày. Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tƣợng để thu: Nợ xóa do thiên tai chƣa có nguồn và chƣa có hạch toán nội bảng; nợ khoanh đối với những doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh đối với doanh nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất… Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhƣng con nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động: Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày. Ngoài ra còn có nhóm nợ là những khoản nợ không thu đƣợc nhƣng không đủ điều kiện để khoanh, xóa. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và được sửa đổi bổ sung bằng quyết định 18/2007/QĐ-NHNN nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm các nhóm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 như sau: Nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại điểm b khoản này; 1 Giáo trình Quản trị Ngân Hàng Thƣơng Mại, Trần Huy Hoàng, 2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 - Các khoản nợ đƣợc miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; - Các khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 theo quy định.
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dƣới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; - Các khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 4 theo quy định; Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chƣa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; - Các khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 5 theo quy định. Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% Ngoài ra, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã đƣa ra một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39. Ủy ban này cũng khuyến khích quan điểm này nên đƣợc áp dụng tại các nƣớc đang phát triển vào đầu năm 2005.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian đã quá hạn 90 ngày hay chƣa quá hạn. Phƣơng pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thƣờng là phƣơng pháp phân tích dòng tiền tƣơng lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng). Hệ thống này đƣợc coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhƣng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn do số liệu chƣa đồng nhất. Vì vậy, Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế đang chỉnh sửa lại.
Hiện tại các NHTM trong nƣớc vẫn tiến hành phân loại nợ theo tiêu chí quá hạn trên 90 ngày. Cách phân loại này có ƣu điểm là đơn giản nhƣng có các nhƣợc điểm nhƣ: Chỉ chú ý đến chất lƣợng về mặt hình thức, không phản ánh đúng thực chất của chất lƣợng tín dụng; Không khuyến khích cán bộ tín dụng giám sát thƣờng xuyên các khoản vay, trích lập dự phòng không đúng hoặc không đầy đủ… 1.3 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 1.1 Nguyên nhân khách quan Môi trường tự nhiên: những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hƣởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Một yếu tố nhƣ thiên tai, hạn hán… đều ảnh hƣởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và khả năng trả nợ của Ngân hàng. Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội: với tƣ cách là trung gian tài chính, rủi ro trong hoạt động của các Ngân hàng thƣơng mại ảnh hƣởng trực tiếp bởi trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc điểm thể chế chính trị, chính sách tài khóa…Một sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, do hành lang pháp lý chƣa phù hợp, do biến động thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, cung cầu hàng hóa thay đổi, một sự thay đổi trong tốc độ tăng trƣởng GDP, lạm phát… cũng khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, từ đó ảnh hƣởng tới hoạt động Ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Dù là yếu tố tự nhiên hay yếu tố chính trị, kinh tế đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng 1.2 Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Là nguyên nhân nội tại bên trong của mỗi khách hàng dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát, ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ, bao gồm: - Khà năng tự chủ tài chính kém. - Năng lực điều hành hoạt động kém - Hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả. - Trình độ quản lý của khách hàng yếu kém - Khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay ngân hàng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay Trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng.
Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay. Chính sách và quy trình cho vay chƣa chặt chẽ, chƣa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chƣa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ. Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chƣa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhƣng do thiếu kiểm tra, giám sát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhƣng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trƣớc khi cấp tín dụng. Nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng. Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chƣa đủ tầm và vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chƣa thỏa đáng cũng là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu cho ngân hàng.4 Tác động của nợ xấu 1.1 Tác động đến hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Nợ xấu ảnh hƣởng trƣớc hết đến các hoạt động của các NHTM, nợ xấu kéo dài sẽ ảnh hƣởng đến nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng, gây ảnh hƣởng đến hệ số an toàn vốn của các ngân hàng. Nợ xấu làm giảm uy tín của Ngân hàng.
Nếu tỷ lệ nợ xấu quá cao, vƣợt quá giới hạn an toàn theo thông lệ quốc tế thì uy tín của NHTM sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Nợ xấu ảnh hƣởng tới khả năng thanh toán của Ngân hàng. Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay.