CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI, NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO.1 Các quan niệm về nghèo đói và các thước đo. Những ảnh hưởng của nghèo đói đối với xã hội. Các quan niệm về nghèo đói. Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội mà hầu hết các quốc gia đều gặp phải trong quá trình phát triển kinh tế của mình.
Do đó, trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, để có thể thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội thì vấn đề xoá đói nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng nhất. Trong năm 1999, Ngân hàng Thế giới đã thực hiện một cuộc điều tra về người nghèo ở một số nước trong đó có Việt Nam. Thông qua các ý kiến của người nghèo qua trả lời phỏng vấn, các nhà nghiên cứu đã xác định được 5 nội dung xung quanh về vấn đề nghèo đói: - Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế – xã hội phức tạp. Những yếu tố dẫn đến nghèo đói khác nhau rất lớn giữa các nền kinh tế và các nhóm xã hội, các phương pháp dùng để đo sự nghèo đói cũng rất khác nhau.
- Nghèo đói thường được coi là sự thiếu các thứ vật chất cần thiết cho cuộc sống trong đó lương thực là đặc biệt quan trọng cùng với đất đai và nhà ở. 6 Vì vậy, thu nhập thấp và các điều kiện sinh hoạt vật chất thấp kém là những thước đo quan trọng của nghèo đói. - Có những yếu tố tâm lý quan trọng liên quan tới nghèo đói, đặc biệt là cảm giác không có quyền hành. Những người nghèo thường cảm thấy bị coi thường trong cách đối xử của cá nhân hoặc cộng đồng.
Điều này thường thấy trong trường hợp họ xin trợ giúp tạm thời hoặc lâu dài. - Sự thiếu cơ sở hạ tầng cũng tác động đến nghèo đói và thường được coi là một biến chính liên quan đến nghèo đói. Điều này được thể hiện rõ ở việc có hay không có các nguồn nước vì đây là một yếu tố quan trọng trong sinh hoạt hàng ngày và trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, giao thông cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tiếp cận với thị trường và tiêu thụ sản phẩm.
- Những người nghèo nhấn mạnh đến sự thiếu các phương tiện sản xuất và đặc biệt là sự thiếu vốn cho sản xuất và kinh doanh, cùng các kỹ năng sản xuất, kiến thức kinh doanh. Như vậy, trong quan niệm về nghèo đói bao gồm sự thiếu hụt trên nhiều khía cạnh khác nhau. Nghèo về vật chất, thiếu vốn, thiếu phương tiện sản xuất, thiếu các cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và cuộc sống; Đồng thời nghèo cũng gây ra những ảnh hưởng tâm lý nhất định như cảm giác không được tôn trọng, hay bị các cá nhân và cộng đồng coi thường dẫn đến tâm lý tự ti, ngại tiếp xúc. Để đánh giá về mức độ nghèo đói, người ta có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá.
Dưới đây là một vài tiêu chí chủ yếu: Lấy lương thực làm cơ sở để đánh giá (đánh giá mức độ nghèo qua lượng lương thực mà gia đình tiêu thụ hàng năm). Lấy tài sản làm cơ sở (nhà cửa tồi tàn, không có tư liệu sản xuất). Lấy thu nhập làm cơ sở (Căn cứ trên thu nhập bình quân đầu người hàng năm). 7 Lấy những chỉ dẫn cụ thể làm cơ sở (tỷ lệ bỏ học, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ thất nghiệp…).
Lấy tài sản kết hợp với thu nhập làm cơ sở. Trên cơ sở và những quan niệm về nghèo đói như trên, tại hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra một định nghĩa chung về nghèo đói: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Từ định nghĩa trên ta có thể thấy nghèo là một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu (ăn, ở, mặc, y tế, văn hoá, giáo dục, giao tiếp). Đây được xem là một định nghĩa chung nhất về nghèo, một định nghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện những nét chính yếu về nghèo.
Ngoài định nghĩa trên, thì theo Ngân hàng Thế giới “nghèo là tình trạng không có khả năng có mức sống tối thiểu”. Tiêu chí xác định chuẩn đói nghèo quốc tế và ở Việt Nam. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế. Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ỏ Việt Nam (năm 1992 – 1993 và năm 1997 - 1998).
Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức chung hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm). + Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm: Được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này được gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.
8 + Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung. Theo cách tính trên, năm 1993 đường đói nghèo chung của Việt Nam là 1,16 triệu VNĐ/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực thực phẩm là 55%); năm 1998 là 1,79 triệuVNĐ/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 39%). Tiêu chí xác định chuẩn đói nghèo của Việt Nam.
Chuẩn hộ nghèo được áp dụng chưa thống nhất trong các thời kỳ khác nhau. Giai đoạn từ năm 1996 - 2000 chuẩn nghèo được quy định theo 3 khu vực (tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong một hộ gia đình, quy ra gạo): + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg gạo/người/tháng (tương đương 55. + Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70. + Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.
Từ năm 2001, căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính 2001 – 2005 và mức sống thực tế của người dân từng vùng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn đói nghèo mới. Cụ thể là: + Khu vực nông thôn miền núi: 80.000đ/người/tháng. + Khu vực nông thôn đồng bằng: 100.000đ/người/tháng. + Khu vực thành thị: 150.000đ/người/tháng.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 -2010 được xác định theo phương pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực thực phẩm. Phần chi cho lương thực thực phẩm bảo đảm năng lượng hàng ngày cho một người là 2100 Kcal, chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu; phần chi cho phi lương thực và thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại, giao tiếp xã hội) 9 chiếm khoảng 40%. Tổng chi tiêu cho lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm quy ra tiền gọi là chuẩn nghèo. Trong giai đoạn này, chỉ sử dụng 2 chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn và thành thị, cụ thể là: + Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000đ/người/tháng (dưới 2.
+ Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 260.000đồng/tháng (dưới 3. Ngoài ra có chú ý tới yếu tố về nhà ở, tài sản, đất đai, tay nghề, công cụ sản xuất. Theo chuẩn mới này, năm 2005 cả nước có khoảng 4,6 triệu hộ nghèo (thành thị khoảng 519 ngàn hộ, nông thôn khoảng hơn 4 triệu hộ). Tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước so với tổng số hộ 22%.
Tỷ lệ hộ nghèo năm 2007 là 14,75% và dự kiến năm 2010 còn khoảng 12%. Những ảnh hưởng của đói nghèo đối với xã hội. - Ảnh hưởng đến phát triển kinh tế: Đối với các nước đang phát triển trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì nghèo đói luôn luôn gắn liền với tình trạng lạc hậu về mặt kinh tế, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ và đây cũng là một trở ngại lớn đối với các nước trong quá trình hội nhập và phát triển. Nhìn chung, nghèo đói có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế thể hiện ở sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp cao, không có đủ sức mạnh về vật chất để đầu tư lớn cho phát triển kinh tế.
Nghèo đói dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế còn thấp, hiệu quả của nền kinh tế chưa cao, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ngành sản phẩm chưa đủ năng lực cạnh tranh do việc đầu tư ít và dàn trải. Những khó khăn trên cũng dẫn đến việc huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực của nền kinh tế còn kém hiệu quả, sức sản xuất chưa được giải phóng và phát huy hết hiệu quả và làm cho nền kinh tế ngày càng chậm phát triển. 1 Nghèo đói cũng dẫn tới việc chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, thể hiện ở việc chuyện dịch cơ cấu kinh tế chậm (tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn trong cơ cấu thành phần kinh tế), hiệu quả sử dụng vốn thấp, công nghệ chậm đổi mới, tốc độ tăng GDP giảm. Bên cạnh đó, nghèo đói cũng dẫn tới ít có điều kiện đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng nông thôn từ đó dẫn tới tốc độ phát triển kinh tế chậm, nhất là ở khu vực nông thôn và làm cho tỷ lệ nghèo càng gia tăng.
Ở Việt Nam hiện nay, xoá đói giảm nghèo đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm mà mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao mức sống của mọi người dân. Đặc biệt ở khu vực duyên hải miền Trung với hàng loạt các chính sách hỗ trợ phát triển đã tạo ra những thay đổi cơ bản, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập tăng, đầu tư cho các chương trình phúc lợi xã hội được cải thiện, do đó góp phần làm giảm tỷ lệ đói nghèo.