Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Rào cản thương mại đối với hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ - Thực trạng và giải pháp" được sinh viên Nguyễn Thị Nga thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Phương Dung tại Khoa Kinh doanh Quốc tế, Học viện Ngân hàng (hoàn thành tháng 5 năm 2022).

Bối cảnh thực tiễn của đề tài xuất phát từ vị trí trọng yếu của ngành dệt may trong nền kinh tế Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, dệt may đóng góp từ 12% đến 16% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đóng góp khoảng 16% GDP vào năm 2019. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào cuối năm 2021. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, thị trường này vẫn ghi nhận sự phục hồi nhanh chóng. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đồng thời là một thị trường có mức độ bảo hộ sản xuất nội địa cao thông qua hệ thống rào cản thương mại kỹ thuật và thuế quan phức tạp, đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu phải chủ động nghiên cứu và thích ứng.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ hệ thống các rào cản thương mại mà hàng dệt may Việt Nam phải đối mặt khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, từ đó đánh giá thực trạng ứng phó của doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp, chiến lược nhằm duy trì vị thế và gia tăng thị phần xuất khẩu. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về rào cản thương mại quốc tế, phân loại rào cản; hệ thống hóa khái niệm hoạt động xuất khẩu và vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
  2. Phân tích thực trạng thị trường dệt may Hoa Kỳ (các yếu tố môi trường vĩ mô và vi mô), nhận diện các rào cản thuế quan và phi thuế quan đang áp dụng, đồng thời đánh giá các chiến lược vượt rào cản mà ngành dệt may Việt Nam đã triển khai.
  3. Rút ra bài học kinh nghiệm từ hai quốc gia có ngành công nghiệp dệt may phát triển là Trung Quốc và Ấn Độ, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược và kiến nghị đối với Nhà nước cùng Hiệp hội Dệt may Việt Nam nhằm thúc đẩy xuất khẩu bền vững vào thị trường Hoa Kỳ.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống rào cản thương mại của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam, cùng thực trạng ứng phó và các giải pháp vượt rào cản của doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định ở cấp độ vĩ mô toàn ngành dệt may xuất khẩu, không tập trung vào một doanh nghiệp hay phân khúc sản phẩm cá biệt; mốc thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp và đánh giá thực trạng tập trung chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2015 đến quý 3 năm 2021, có cập nhật biểu thuế và chính sách đến đầu năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên các định nghĩa kinh tế học và thương mại quốc tế:

  • Khái niệm xuất khẩu: Tác giả trích dẫn quan điểm của Alan H. Gelb (1976) trong tác phẩm Export Instability: Definition, Measurement and Buffering Costs, định nghĩa xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài. Ở góc độ pháp lý, tác giả căn cứ theo Khoản 1, Điều 28 của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 về hành vi đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc vào khu vực hải quan riêng.
  • Chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may: Luận văn phân tích cấu trúc chuỗi giá trị dệt may qua 4 công đoạn chính: thiết kế mẫu mã (khâu thâm dụng tri thức, mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất nhưng Việt Nam mới tham gia khoảng 30% dưới dạng FOB); sản xuất nguyên phụ liệu (Việt Nam mới đáp ứng 40% nhu cầu xơ, 0,3% nhu cầu bông, tự chủ khoảng 18% chuỗi giá trị); sản xuất gia công cắt may (chiếm 5% - 7% giá trị chuỗi, nhưng có tới 90% doanh nghiệp Việt Nam tham gia, chủ yếu qua phương thức CMT chiếm 65%); marketing và phân phối (chiếm 70% giá trị gia tăng, khâu này hoàn toàn do các nhà buôn và tập đoàn bán lẻ quốc tế nắm giữ).
  • Rào cản thương mại quốc tế: Tác giả tham chiếu các định nghĩa từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2012) và định nghĩa tổng hợp của Tạ Thị Hương Giang (2011). Về phân loại, khóa luận phân chia thành:
    • Rào cản thuế quan: Phân loại theo đối tượng, phương pháp tính thuế (tính theo tỷ lệ phần trăm, thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp căn cứ Giáo trình Thuế và Thủ tục hải quan của Lê Tuấn Lộc, 2017) và mục đích bảo hộ.
    • Rào cản phi thuế quan (NTMs): Bao gồm các biện pháp kỹ thuật (Hiệp định SPS, Hiệp định TBT, thủ tục kiểm tra trước giao hàng) và biện pháp phi kỹ thuật (biện pháp phòng vệ thương mại gồm chống bán phá giá theo Điều VI GATT và Hiệp định ADA, chống trợ cấp, tự vệ; hạn ngạch; các biện pháp kiểm soát giá, tài chính, đầu tư TRIMs; mua sắm chính phủ và sở hữu trí tuệ).

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu bàn (desk research), thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ các nguồn thống kê chính thống: Tổng cục Hải quan Việt Nam, Bộ Công Thương, Hội đồng Quốc gia các Tổ chức Dệt may Hoa Kỳ (NCTO), Cục Phân tích Kinh tế Hoa Kỳ (BEA), Hệ thống Biểu thuế Hài hòa Hoa Kỳ (HTS), cùng các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) và UNCTAD. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và phân tích định tính các yếu tố môi trường vĩ mô (PESTLE) và vi mô để đưa ra nhận định.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về rào cản thương mại đối với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận về hoạt động xuất khẩu, chuỗi giá trị ngành dệt may và bản chất các công cụ bảo hộ thương mại. Tác giả chỉ ra rằng thương mại dệt may toàn cầu chiếm từ 8% đến 8,8% tổng thương mại thế giới. Dù Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu, giá trị gia tăng thu về còn hạn chế do 90% doanh nghiệp tập trung vào khâu gia công cắt may (CMT chiếm 65%), phụ thuộc tới 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp và 60% vải dệt thoi nhập khẩu.

Bên cạnh khung lý thuyết về thuế quan và các biện pháp phi thuế quan (SPS, TBT, chống bán phá giá, hạn ngạch), chương này đi sâu phân tích bài học kinh nghiệm từ hai đối thủ cạnh tranh lớn nhất:

  • Trung Quốc: Quốc gia chiếm 1/4 khối lượng thương mại dệt may toàn cầu. Để đối phó với việc Hoa Kỳ áp thuế trừng phạt bổ sung (đối với gói hàng hóa 250 tỷ USD) và các biện pháp tự vệ, Trung Quốc đã chủ động tự túc nguồn nguyên phụ liệu nội địa, tự động hóa dây chuyền sản xuất, chuyển hướng sang dòng sản phẩm kỹ thuật cao đạt chứng chỉ ISO 9000, ISO 14000 và nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Tập đoàn Phát triển Khoa học và Công nghệ Trung Quốc.
  • Ấn Độ: Nước sản xuất dệt may đứng thứ hai thế giới, tận dụng lợi thế tự chủ bông, sợi tự nhiên và chi phí lao động thấp. Chính phủ Ấn Độ triển khai Chương trình khuyến khích liên kết sản xuất (PLI) tập trung vào sợi nhân tạo và dệt kỹ thuật (nhắm vào thị trường dệt kỹ thuật 4,5 tỷ USD của Hoa Kỳ), triển khai Quỹ nâng cấp công nghệ sửa đổi (A-TUFS) trị giá hơn 14 tỷ USD (dự kiến tạo 35.000 việc làm năm 2022) và mở cơ chế thông quan 24/7 tại 14 cảng biển cùng 13 sân bay.

Từ kinh nghiệm quốc tế, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về sự cần thiết phải chủ động nguyên phụ liệu nội địa để đáp ứng quy tắc xuất xứ, đổi mới công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội và đẩy mạnh vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước cùng hiệp hội ngành nghề.

Chương 2: Thực trạng rào cản đối với ngành dệt may Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ

Chương 2 cung cấp bức tranh chi tiết về thị trường dệt may Hoa Kỳ thông qua mô hình phân tích môi trường kinh doanh:

  • Môi trường vĩ mô (PESTLE):
    • Chính trị: Chính quyền Tổng thống Joe Biden siết chặt quy tắc "Mua hàng Mỹ" (Buy American), ưu tiên chuỗi cung ứng thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE), áp thuế trừng phạt đối với các hành vi thao túng tiền tệ hoặc vi phạm sở hữu trí tuệ, đồng thời gắn kết chuỗi cung ứng với khu vực Tây Bán Cầu qua các hiệp định CAFTA-DR và USMCA.
    • Kinh tế: Quy mô xuất nhập khẩu dệt may Hoa Kỳ năm 2020 đạt 64,4 tỷ USD (xuất khẩu 25,4 tỷ USD). Dưới tác động của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng ngành sản xuất dệt may Mỹ giảm mạnh nhất vào quý 2 năm 2020 (-21% so với cùng kỳ 2019), nhưng đã phục hồi đạt 98,5% mức trước dịch vào tháng 9 năm 2021.
    • Xã hội: Ngành dệt may Hoa Kỳ sử dụng 529.300 lao động năm 2020 (giảm từ 585.240 người năm 2019), trong đó lĩnh vực trồng bông và công nghiệp liên quan chiếm đông nhất với 115.200 người.
    • Công nghệ & Môi trường: Hoa Kỳ đẩy mạnh tái chế chất thải dệt (ngành thải bỏ 11,3 triệu tấn chất thải/năm, tương đương 2.150 sản phẩm may mặc mỗi giây; chiếm 10% khí thải CO2 toàn cầu; dệt may chiếm 15% tổng sản phẩm hóa dầu theo IEA). Đồng thời, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đầu tư vào nghiên cứu vải cảm biến quang học, quân phục đổi màu.
    • Pháp lý: Hệ thống luật định nghiêm ngặt như Quy tắc 807 (chỉ đánh thuế phần giá trị gia tăng đối với vải cắt tại Mỹ), Đạo luật Nhận diện Xơ dệt và Len (FTCA/WPLA), Đạo luật Nước sạch, Đạo luật WIPPES kiểm soát xả thải khăn lau.
  • Môi trường vi mô: Thị trường có tính cạnh tranh gay gắt. Khách hàng Hoa Kỳ ưu tiên tính thoải mái, chuộng sợi bông, hàng dệt kim và mua sắm trực tuyến. Trong nhóm 5 đối tác cung ứng lớn nhất (Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh, Mexico), Việt Nam giữ vị trí thứ hai, đạt kim ngạch 14,6 tỷ USD vào năm 2020 (tăng 163 triệu USD, tương đương 1,1% so với 2019).

Về rào cản thuế quan, dù được hưởng thuế suất tối huệ quốc (MFN) trong khung từ 1% đến 40% (phổ biến từ 2% đến 7%), hàng may mặc Việt Nam vẫn chịu mức thuế tương đối cao. Khóa luận tổng hợp mức thuế suất nhập khẩu HTS năm 2022 áp dụng cho các nhóm hàng từ Chương 50 đến Chương 63:

Mã HS Tên nhóm hàng Mức thuế nhập khẩu Hoa Kỳ (HTS 2022)
HS 50 Tơ tằm HS 5001 - 5006: Miễn thuế; HS 5003.90: 2,5%; HS 5007: 0,8% - 3,9%
HS 51 Lông cừu, lông động vật; vải dệt thoi từ lông ngựa HS 5101 - 5105: Phần lớn miễn thuế (một số mã chịu 6,8 - 18,7 cent/kg); HS 5106 - 5110: 4% - 6%; HS 5111 - 5113: 6,9% - 25%
HS 52 Cotton (Bông) HS 5201 - 5204: 1,5 cent/kg - 31,4 cent/kg (một số mã 4,3% - 5%); HS 5205: 3,7% - 12%; Toàn bộ HS 5206: 9,2%; HS 5208 - 5212: 3% - 16,5%
HS 53 Sợi dệt thực vật khác, sợi giấy và vải dệt thoi HS 5301 - 5308: Phần lớn miễn thuế (HS 5301.10: 2,7%); HS 5309 - 5311: Đa số miễn thuế (HS 5311.30: 6,9%)
HS 54 Sợi nhân tạo HS 5401 - 5406: 7,5% - 11,4%; HS 5407 - 5408: 6,9% - 25% (phổ biến 12% và 14,9%)
HS 55 Xơ staple nhân tạo HS 5501 - 5502: 7,5%; HS 5503 - 5504: 4,3%; HS 5505: Miễn thuế; HS 5508 - 5512: 7,5% - 13,2%; HS 5513 - 5514: 14,9%; HS 5515 - 5516: 8,5% - 25%
HS 56 Bông, nỉ, sản phẩm không dệt, sợi đặc biệt, dây thừng HS 5601 - 5602: 3,6% - 12%; HS 5603: Miễn thuế; HS 5604 - 5609: 2,7% - 14,1%
HS 57 Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác HS 5701: Miễn thuế (trừ HS 5701.90: 4,5%); HS 5702 - 5705: Phần lớn miễn thuế (một số mã 2,7% - 6,7%)
HS 58 Vải dệt thoi đặc biệt; thêu ren trang trí HS 5801: 10% - 20,2% (mã 5801.20: 2,7%); HS 5802 - 5804: 5% - 14%; HS 5805: Miễn thuế; HS 5806 - 5810: 3% - 14,9%
HS 59 Vải ngâm tẩm, tráng, phủ lớp ép công nghiệp HS 5901 - 5903: 2,7% - 14,1%; HS 5904 - 5905: Miễn thuế; HS 5906 - 5911: 2,7% - 8% (một số mã miễn thuế)
HS 60 Vải dệt kim hoặc móc HS 6001 - 6006: 4% - 14,1% (phổ biến 10%; HS 6006.90 miễn thuế)
HS 61 Quần áo và phụ kiện may mặc, dệt kim hoặc móc HS 6101 - 6117: Dao động từ 0,6% đến 28,2% (một số mã miễn thuế hoặc tính thuế theo tỷ lệ từng phần)
HS 62 Quần áo và phụ kiện may mặc, không dệt kim hoặc móc HS 6201 - 6217: Dao động từ 1,1% đến 28,6% (HS 6204.50 miễn thuế)
HS 63 Mặt hàng dệt hoàn thiện khác, bộ vải, quần áo cũ HS 6301 - 6310: Dao động từ 2,5% đến 20,9% (nhiều dòng sản phẩm được miễn thuế)

Bên cạnh thuế quan, rào cản phi thuế quan lớn nhất đối với Việt Nam là các quy định khắt khe về quy tắc xuất xứ nguyên phụ liệu, yêu cầu kiểm định hóa chất, an toàn sinh thái, tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội và nhãn mác hướng dẫn bảo quản sản phẩm.

Chương 3: Giải pháp vượt rào cản hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ

Căn cứ vào định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2030, Chương 3 đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp:
    • Phát triển nguồn nguyên phụ liệu: Đẩy mạnh đầu tư chuỗi sản xuất sợi, dệt nhuộm nhằm giảm tỷ lệ nhập khẩu từ các nước ngoài hiệp định, đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng lợi thuế quan; dịch chuyển phương thức sản xuất từ CMT sang FOB, ODM và OBM.
    • Xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường: Chủ động xúc tiến thương mại trực tuyến, tham gia hội chợ thương mại quốc tế tại Hoa Kỳ để kết nối trực tiếp với các nhà bán lẻ, giảm bớt sự phụ thuộc vào các khâu trung gian phân phối.
    • Nâng cao chất lượng và trách nhiệm xã hội: Tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000, tiêu chuẩn môi trường ISO 14000, quy định về hóa chất, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu sinh thái nhằm đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh tại Hoa Kỳ.
    • Đầu tư công nghệ và phát triển nhân lực: Tự động hóa các công đoạn cắt may, đầu tư máy móc hiện đại để nâng cao năng suất; đào tạo đội ngũ thiết kế mẫu mã và kỹ thuật viên vận hành công nghệ cao.
  • Nhóm kiến nghị đối với cơ quan quản lý:
    • Đối với Chính phủ: Đẩy mạnh đàm phán thương mại song phương và đa phương nhằm gỡ bỏ rào cản bảo hộ; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về các biện pháp phòng vệ thương mại; quy hoạch và cấp phép phát triển các khu công nghiệp tập trung chuyên ngành dệt nhuộm có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn; có chính sách ưu đãi tín dụng cho các dự án công nghệ hỗ trợ.
    • Đối với Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS): Phát huy vai trò cầu nối cung cấp thông tin pháp lý thị trường Hoa Kỳ, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật về rào cản TBT/SPS, hỗ trợ doanh nghiệp liên kết chuỗi cung ứng nội địa và phối hợp giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp được các dữ liệu thực tế về ngành dệt may của Hoa Kỳ và thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ:

  • Thống kê chi tiết giá trị sản xuất ngành dệt may Hoa Kỳ năm 2020 theo 4 nhóm danh mục chính: Nhà máy dệt sợi và vải (25,7 tỷ USD); Nhà máy sản xuất sản phẩm dệt không phải quần áo (22 tỷ USD); Hàng may mặc (10,6 tỷ USD); Xơ và filaments nhân tạo/tổng hợp (6,1 tỷ USD). Tổng đầu tư vốn vào máy móc thiết bị ngành dệt may Mỹ giai đoạn 2010 - 2019 đạt 19,9 tỷ USD (tăng 69% từ 1,41 tỷ USD năm 2010 lên 2,38 tỷ USD năm 2019).
  • Làm rõ vị thế cung ứng của dệt may Việt Nam tại Hoa Kỳ: Giữ vững vị trí nhà xuất khẩu lớn thứ hai vào năm 2020 với kim ngạch 14,6 tỷ USD (tăng 1,1%), chỉ đứng sau Trung Quốc.
  • Xây dựng bảng tra cứu chi tiết mức thuế nhập khẩu HTS của Hoa Kỳ năm 2022 đối với 14 chương hàng dệt may (từ Chương 50 đến 63), chỉ rõ các mặt hàng may mặc chịu mức thuế trần lên tới 28,2% (Chương 61) và 28,6% (Chương 62).
  • Về mặt học thuật và thực tiễn, đóng góp của đề tài thể hiện ở việc cập nhật số liệu và bối cảnh rào cản thương mại mới (giai đoạn sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ hạn ngạch dệt may, tác động của xung đột thương mại Mỹ - Trung khiến hàng Trung Quốc chịu thuế cao, và những biến động chuỗi cung ứng trong đại dịch Covid-19), khắc phục khoảng trống dữ liệu cũ từ các nghiên cứu trước năm 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi và phương pháp tiếp cận:

  • Đề tài tập trung phân tích ở quy mô vĩ mô toàn ngành dệt may, chưa thực hiện khảo sát định lượng trực tiếp (điều tra bảng hỏi) tại các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu cụ thể để đánh giá chi phí tuân thủ rào cản phi thuế quan.
  • Dữ liệu thứ cấp phân tích thực trạng thị trường Hoa Kỳ chủ yếu dừng lại ở các mốc số liệu năm 2020 và quý 3 năm 2021 do độ trễ công bố báo cáo tại thời điểm tác giả hoàn thành khóa luận (tháng 5/2022).
  • Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:
    • Đi sâu phân tích tác động vi mô của Đạo luật Ngăn chặn Lao động Cưỡng bức người Duy Ngô Nhĩ (UFLPA) của Hoa Kỳ đối với chuỗi cung ứng bông sợi dệt may của các doanh nghiệp Việt Nam.
    • Đo lường mức độ ảnh hưởng của xu hướng thời trang tuần hoàn và các rào cản kỹ thuật xanh (Green Technical Barriers) đến kim ngạch xuất khẩu từng mặt hàng dệt may chuyên biệt (sợi, vải, trang phục thể thao).

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên: Các chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế cần tài liệu nghiên cứu về rào cản thương mại, các biện pháp NTMs và chuỗi giá trị hàng dệt may.
  • Doanh nghiệp xuất khẩu dệt may: Tham khảo biểu thuế nhập khẩu HTS từ Chương 50 đến Chương 63 và các quy định pháp lý chuyên ngành của Hoa Kỳ (Quy tắc 807, Đạo luật WIPPES, quy định ghi nhãn).
  • Cán bộ nghiên cứu chính sách: Tham khảo bài học kinh nghiệm phát triển chính sách hỗ trợ công nghiệp dệt may (chương trình PLI, quỹ A-TUFS) của Ấn Độ và Trung Quốc để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Ngành dệt may Việt Nam hiện tham gia vào những khâu nào trong chuỗi giá trị toàn cầu và điểm yếu lớn nhất là gì?
Theo số liệu trong khóa luận, ngành dệt may Việt Nam có tới 90% doanh nghiệp tham gia vào khâu gia công cắt may (trong đó phương thức CMT chiếm 65%), chỉ tạo ra 5% - 7% giá trị gia tăng toàn chuỗi. Điểm yếu lớn nhất là khâu thiết kế mẫu mã (chỉ chiếm 30% giá trị xuất khẩu dưới hình thức FOB) và khâu sản xuất nguyên phụ liệu (chỉ tự túc được 0,3% bông, 40% xơ và phải nhập khẩu 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 60% vải dệt thoi).

Kim ngạch và vị thế xuất khẩu của dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành vào cuối năm 2021. Năm 2020, bất chấp ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn đạt 14,6 tỷ USD (tăng 163 triệu USD, tương đương 1,1% so với năm 2019), giữ vững vị thế là nhà cung ứng hàng dệt may lớn thứ hai cho thị trường này, chỉ sau Trung Quốc.

Mức thuế nhập khẩu MFN mà Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng may mặc Việt Nam (Chương 61 và Chương 62) là bao nhiêu?
Theo Biểu thuế HTS Hoa Kỳ năm 2022 được tác giả tổng hợp, hàng may mặc dệt kim hoặc móc (Chương 61) chịu mức thuế suất dao động từ 0,6% đến 28,2%. Hàng may mặc không dệt kim hoặc móc (Chương 62) chịu mức thuế suất dao động từ 1,1% đến 28,6% (ngoại trừ một số mã như HS 6204.50 được miễn thuế).

Ấn Độ đã áp dụng những chính sách công nghệ và logistics nào để gia tăng sức cạnh tranh cho hàng dệt may khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ?
Ấn Độ đã triển khai Chương trình khuyến khích liên kết sản xuất (PLI) tập trung vào sợi nhân tạo và dệt kỹ thuật; áp dụng Chương trình Quỹ nâng cấp công nghệ sửa đổi (A-TUFS) với quy mô vốn đầu tư hơn 14 tỷ USD (hướng tới tạo 35.000 việc làm năm 2022); đồng thời mở rộng cơ chế làm việc thông quan liên tục 24/7 tại 14 cảng biển và 13 sân bay nhằm tối ưu hóa thời gian và chi phí vận chuyển.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Nga đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuỗi giá trị dệt may và các rào cản thương mại quốc tế, đồng thời phân tích sâu sắc thực trạng áp dụng thuế quan và rào cản kỹ thuật của thị trường Hoa Kỳ đối với hàng dệt may Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu thị trường và bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Ấn Độ, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là tài liệu tổng hợp có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nghiên cứu kinh doanh quốc tế và hoạt động thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ.