CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY 1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may “Xuất khẩu” được hiểu là việc đưa hàng hóa trong nước ra nước ngoài nhằm mục đích thu lợi nhuận. Nhưng để nhận định khái niệm “xuất khẩu” một cách quy chuẩn hơn thì có các định nghĩa sau: Trong sách Export Instability: Definition, Measurement and Buffering Costs của tác giả Alan H.
Gelb (1976), định nghĩa về xuất khẩu:“ Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài. Một doanh nghiệp tham gia vào các giao dịch như vậy được cho là đang xuất khẩu hoặc là một nhà xuất khẩu. Về mặt chức năng, doanh nghiệp vẫn đang kinh doanh, bán và cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ nhưng giờ đã qua biên giới”. Theo Khoản 1, Điều 28 của Luật thương mại 2005, “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, hoặc đưa vào khu vực đặt biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Định nghĩa “xuất khẩu” được đưa ra mang tính khái quát và vĩ mô, nhìn chung cả hai khái niệm nêu trên đã giải thích đầy đủ những nội dung mà hàm chứa trong hoạt động xuất khẩu. Với cơ cấu kinh tế toàn cầu bổ sung cho nhau, xu thế tự do hóa thương mại, khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế, hoạt động xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ có nhiều bước biến chuyển vượt bậc và phát triển mạnh mẽ. Quy mô xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ được mở rộng tương xứng với tiềm lực kinh tế của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ. Hiện nay, Hoa Kỳ đang là thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam.
Vai trò của ngành dệt may trong chuỗi giá trị toàn cầu Ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, là ngành giải quyết vấn đề việc làm người lao động Việt Nam, là ngành xuất khẩu chủ lực có tốc độ tăng trưởng cao qua các năm. Trong thời gian qua, khi tham gia vào thương mại quốc tế, ngành dệt may Việt Nam đã tận 8 dụng những cơ hội và chuyển hóa các thách thức thành những kết quả đáng mừng của ngành. Thực tế dệt may Việt Nam đã và đang xuất khẩu sang hơn 180 quốc gia, trong đó có mặt ở hầu hết các thị trường lớn như Hoa Kỳ, liên minh Châu Âu EU, Nhật Bản, và cả các nước Trung Âu và Đông Âu. Điều này chứng minh ngành dệt may Việt Nam bước đầu có lợi thế cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm trên thị trường toàn cầu.
Bên cạnh đó, ngành dệt may Việt Nam đang tiếp tục mở rộng thị phần, tìm kiếm đối tác tiềm năng, thúc đẩy ngành phát triển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các khâu gia công, cắt may mà chưa thể tham gia vào những khâu mà tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Thiết kế mẫu mã Thiết kế mẫu mã có thể coi là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị hàng dệt may xuất khẩu đòi hỏi trình độ cao và rất thâm dụng tri thức. Thiết kế kiểu dáng, mẫu mã quyết định rất lớn đến giá trị của sản phẩm.
Đầu tư để làm chủ khâu thiết kế thời trang, đưa ra những ý tưởng độc đáo, sáng tạo chủ động tìm hiểu các mẫu hợp với xu hướng, thị hiếu may mặc toàn cầu. Đây là khâu có tỷ suất lợi nhuận cao nhất kéo theo giá trị gia tăng của các mặt hàng dệt may xuất khẩu nhưng lại là khâu yếu nhất của các doanh nghiệp may mặc Việt Nam. Các công ty dệt may Việt Nam tham gia vào khâu đưa ra ý tưởng thiết kế dưới dạng FOB chiếm khoảng 30% giá trị xuất khẩu của ngành, còn lại chủ yếu là xuất khẩu dưới hình thức gia công theo đúng mẫu mã, đơn đặt hàng. Phần lớn công đoạn thiết kế mẫu mã nước ta được thực hiện bởi trung tâm thời trang thế giới, ở quốc gia có ngành công nghiệp thời trang phát triển như Anh, Pháp, Hoa Kỳ.
Mặc dù các doanh nghiệp may mặc Việt Nam chưa đảm nhận được khâu thiết kế nhưng trong thời gian qua một số nhà sản xuất đã nỗ lực, cố gắng phát triển đưa thương hiệu của mình vào thị trường thế giới được lựa chọn tin tưởng như các nhà sản xuất xuất khẩu An Phước – Pierre Cardin xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng đồ vest, áo sơ mi nam, áo thun sang Nhật, giày thể thao vào thị trường EU khiến cho thương hiệu của An Phước Group ngày càng vươn xa hơn; May Việt Tiến xuất khẩu Sciaro và Manhattan. Để đứng vững trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp may mặc Việt Nam cần tự chủ trong khâu thiếu kế mẫu mã, nâng giá trị gia tăng của sản phẩm. Sản xuất nguyên, phụ liệu Theo báo cáo Bộ Công Thương (2021), các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phát triển khâu sản xuất nguyên, phụ liệu chủ yếu cung cấp nhu cầu xơ chiếm 40%, trong khi bông chỉ 0,3% còn đâu phụ thuộc vào nước ngoài như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đài Loan. Chúng ta làm chủ được công đoạn này khoảng 18% trong chuỗi giá trị toàn cầu, chiếm thị phần không nhỏ.
Về phụ liệu may, Việt Nam hiện đã đầu tư phát triển một số doanh nghiệp sản xuất phụ liệu chính như chỉ may, bông, nhãn mác, cúc nhựa, băng keo nhưng mới đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước còn lại phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên, phụ liệu nước ngoài. Trong những năm gần đây, công nghiệp lọc hoá dầu phát triển là điều kiện cơ hội, triển vọng mới cho các doanh nghiệp dệt may trong việc tự túc các loại bông xơ nhân tạo. Mặc dù đã cố gắng phát triển bông tự nhiên, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế là nguyên nhân dẫn đến kết quả còn khiêm tốn. Thực tế, nhu cầu nhập khẩu nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất cần đến 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vải dệt thoi.
Ngành dệt may Việt Nam có giá trị gia tăng nhưng chưa cao bởi chưa chủ động được nguồn nguyên, phụ liệu, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp nước ngoài, làm hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Sản xuất gia công Công đoạn gia công sản phẩm bao gồm các khâu cắt, may, hoàn thiện, đóng gói, vận chuyển, và một số công đoạn khác chiếm giá trị là 5-7% trong chuỗi giá trị toàn cầu (cả các thủ tục xuất nhập khẩu). Ngành dệt may Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu này tuy nhiên tạo ra giá trị gia tăng rất thấp, để được giá trị gia tăng cao thì phải tham gia vào khâu thiết kế; cung cấp nguyên, phụ liệu, sản xuất và bán trong khi các công ty dệt may Việt Nam có tới 90% tham gia hầu hết vào xuất khẩu gia công. Các phương thức xuất khẩu gia công chính mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam sử dụng là CMT chiếm tới 65% tức người mua cung cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ nguyên, phụ liệu đầu vào, mẫu thiết kế, phương thức vận chuyển để sản xuất sản phẩm.
Nhà sản xuất chỉ thực hiện công đoạn cắt may và hoàn thiện, kiểm tra sản phẩm. Còn phương thức vận chuyển chính được sử dụng là FOB, người bán (doanh nghiệp dệt may Việt Nam) hết trách nhiệm khi giao hàng lên tàu, nên sẽ không chịu rủi ro trong quá trình hoạt động xuất khẩu diễn ra đồng thời mức giá xuất khẩu theo 10 đó cũng thấp hơn nhiều. Dệt may Việt Nam xuất khẩu vào nhiều thị trường thế giới, đứng trong top 10 nhà xuất khẩu lớn nhất nhưng mới dừng lại ở việc xuất khẩu tại chỗ nên giá trị thu về còn thấp. Marketing, phân phối sản phẩm Đây là khâu quan trọng quyết định đến giá trị gia tăng của sản phẩm, xúc tiến thương mại, kích thích tiêu dùng, đưa hàng dệt may tiến xa hơn với thị trường toàn cầu.
Giá trị công đoạn này chiếm tới 70% trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa thể xây dựng hệ thống phân phối ở nước ngoài khi chủ yếu hoạt động theo hình thức gia công xuất khẩu. Khâu phân phối đang phụ thuộc vào các nhà buôn nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp bán lẻ (sở hữu các thương hiệu hàng đầu thế giới, trong đó có siêu thị, cửa hàng bán lẻ, nhà bán sỉ tập trung chủ yếu ở các quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp, EU, Nhật Bản); nhà sản xuất (các công ty dệt may trong khu vực và quốc tế) và các nhà buôn (thương nhân hàng đầu như Hoa Kỳ, EU, Hong Kong, Nhật Bản). Các nhà buôn đang đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là trung gian trong chuỗi cung ứng hàng dệt may Việt Nam ra thị trường thế giới.
Các doanh nghiệp nước ngoài bao gồm các nhà bán lẻ lớn, nhà sản xuất tin cậy vào các nhà buôn để phát triển mạng lưới cung ứng của họ ở Việt Nam với mục đích giảm chi phí giao dịch. Trong nước, nhiều công ty may đã có những chiến lược marketing rất thành công trong thời gian gần đây. Tổng công ty May Việt Tiến với chiến lược chiếm lĩnh thị trường phía Bắc hay Công ty Cổ phần May Mười cũng có danh tiếng, vị thế thương hiệu tại thị trường phía Bắc. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không ngừng học hỏi kinh nghiệm, đưa ra các chiến lược đẩy mạnh khâu marketing, khẳng định thương hiệu của mình sánh ngang các thương hiệu nổi tiếng quốc tế.
Từ những phân tích về chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam cho thấy, mặc dù giá trị gia tăng không cao nhưng giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh hơn bởi ưu thế về chi phí lao động thấp. Dệt may được coi là một trong những ngành chủ lực của nền kinh tế, theo số liệu của Tổng cục Hải Quan (2020) cho thấy quy mô thương mại của thị trường dệt may thế giới chiếm từ 8 - 8,8% tổng thương mại toàn cầu, tính theo trị giá, đạt khoảng 1. Ngành dệt may của Việt Nam cũng là ngành hàng xuất khẩu chủ đạo và giữ vai trò quan 11 trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, chiếm 12 - 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm 2019, giá trị xuất khẩu của ngành đóng góp tới 16% tổng GDP.