Luận văn thạc sĩ về giải quyết việc làm cho thanh niên ở các huyện đảo tỉnh Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ phân tích giải pháp tạo việc làm cho thanh niên tại các huyện đảo tỉnh Quảng Ninh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giải pháp việc làm cho thanh niên huyện đảo Quảng Ninh

Luận văn tập trung vào việc đề xuất giải pháp việc làm cho thanh niên tại các huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh. Các giải pháp này nhằm tạo ra cơ hội việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Các yếu tố như đào tạo nghề, chính sách việc làm, và hỗ trợ việc làm được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

1.1. Đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng

Một trong những giải pháp việc làm quan trọng là tập trung vào đào tạo nghề cho thanh niên. Việc nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp giúp thanh niên đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với đặc thù kinh tế của các huyện đảo, đặc biệt là các ngành nghề liên quan đến du lịch, dịch vụ, và nông nghiệp biển.

1.2. Chính sách hỗ trợ việc làm

Các chính sách việc làm đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho thanh niên. Cần có các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, và đất đai để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các khu vực đảo. Đồng thời, việc thành lập các trung tâm giới thiệu việc làm sẽ giúp kết nối hiệu quả giữa người lao động và nhà tuyển dụng.

II. Phát triển kinh tế bền vững tại huyện đảo Quảng Ninh

Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển kinh tế bền vững trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệpthiếu việc làm cho thanh niên. Các giải pháp được đề xuất bao gồm việc tái cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề mới, và tận dụng lợi thế địa lý của các huyện đảo.

2.1. Tái cơ cấu kinh tế

Việc tái cơ cấu kinh tế hướng tới các ngành nghề có tiềm năng phát triển như du lịch, dịch vụ, và nông nghiệp biển sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới. Điều này không chỉ giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của các huyện đảo.

2.2. Phát triển du lịch và dịch vụ

Các huyện đảo như Vân Đồn và Cô Tô có tiềm năng lớn về du lịch và dịch vụ. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, quảng bá du lịch, và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ thu hút nhiều khách du lịch, từ đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho thanh niên.

III. Hỗ trợ thanh niên trong tìm kiếm việc làm

Luận văn đề cập đến các biện pháp hỗ trợ việc làm nhằm giúp thanh niên tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường lao động. Các giải pháp bao gồm việc cung cấp thông tin, tư vấn nghề nghiệp, và hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh.

3.1. Cung cấp thông tin và tư vấn nghề nghiệp

Việc cung cấp thông tin về thị trường lao động và tư vấn nghề nghiệp sẽ giúp thanh niên định hướng tốt hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Các trung tâm tư vấn cần được thành lập tại các huyện đảo để hỗ trợ kịp thời cho người lao động.

3.2. Hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh

Các chương trình hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh sẽ giúp thanh niên tự tạo việc làm và phát triển các mô hình kinh tế nhỏ. Điều này không chỉ giải quyết vấn đề thất nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ giải quyết việc làm cho thanh niên ở các huyện đảo tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I, Luật Thanh niên được Quốc hội Khóa 11 ban hành ngày 29/11/2005: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Theo quy định tại Điều 3, Bộ Luật Lao động (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012) “người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Tuy nhiên trong tình hình thực tế phổ biến của thị trường lao động (TTLĐ), khái niệm về lực lượng lao động (LLLĐ) được hiểu là những người có khả năng làm việc và sẵn sàng làm trong thời điểm điều tra. Do đó, khái niệm LLLĐ thanh niên (sau đây gọi tắt là lao động thanh niên) được sử dụng trong luận văn là những người trong độ tuổi từ đủ 16 - 30 tuổi, có khả năng lao động và sẵn sàng làm việc, được chia ra làm 3 nhóm: - Nhóm sau khi tốt nghiệp THCS hoặc THPT không có điều kiện học lên, tham gia ngay vào TTLĐ.

Đó là lao động phổ thông, chưa có nghề; - Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường CĐ, ĐH, Dạy nghề sẵn sàng tham gia vào TTLĐ. Đó là lao động có chuyên môn kỹ thuật (CMKT) (có nghề); - Nhóm bị mất việc làm hoặc thất nghiệp đang có nhu cầu việc làm, sẵn sàng tham gia hoặc trở lại TTLĐ. Như vậy, thanh niên khi xem xét dưới góc độ lực lượng tham gia TTLĐ được gọi là lao động thanh niên, bao gồ m những những thanh niên trong độ tuổ i (từ đủ 16 - 30) có khả năng lao động, hiê ̣n đang có viê ̣c làm hoặc thấ t nghiê ̣p. Đặc điểm của lao động thanh niên Lao động thanh niên có một số đặc điểm sau: - Khả năng nắm bắt, học tập và quan hệ với đồng nghiệp tốt.

Đây cũng là một đặc điểm của lao động thanh niên. Những ngành nghề, lĩnh vực cần phải không ngừng 6 học hỏi, lao động thanh niên tỏ ra vượt trội so với lao động ở các lứa tuổi khác. Lao động thanh niên cũng là lực lượng dễ hòa nhập với môi trường làm việc, với đồng nghiệp mới. Nhờ những phẩm chất này mà việc hội nhập vào môi trường làm việc của doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn.

Lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề còn có những phẩm chất khác nữa như mong muốn thăng tiến trong nghề nghiệp, khả năng tiến bộ trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp và dễ hoà nhập vào môi trường làm việc - Đối với lao động qua đào tạo: Có tri thức, sức khỏe và kỹ năng Trong thực tế tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu lao động được chia thành các cấu phần khác nhau. Có những công việc đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm; có những công việc đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và tố chất trẻ. Người sử dụng lao động thường không đánh giá người lao động thanh niên và lao động lớn tuổi theo cùng một cách. Đối với những công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm thường thì những người lao động đứng tuổi chiếm ưu thế.

Tuy nhiên, đối với những công việc đòi hỏi không chỉ kiến thức, khả năng thích ứng, mà còn các tố chất thuộc về sức trẻ thì lao động thanh niên tốt nghiệp ĐH, CĐ và dạy nghề lại chiếm ưu thế. - Đối với lao động phổ thông: Sức khỏe và khả năng thích nghi Trong cơ cấu sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều cần dùng nhân lực qua đào tạo mà vẫn cần một bộ phận nhân lực làm các công việc đơn giản, yêu cầu có sức khỏe là chính. Nhu cầu về lao động loại này tuy không nhiều, nhưng rõ ràng lao động thanh niên có ưu thế hơn lao động trung niên và cao tuổi. Khả năng cạnh tranh một vị trí làm việc của lao động thanh niên, do vậy là cao hơn so với các nhóm lao động khác.

- Lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng thấp. Đây vừa là đặc điểm, vừa là hạn chế của lực lượng lao động thanh niên. Đối với lao động thanh niên qua đào tạo, hạn chế lớn nhất là cơ cấu lao động tốt nghiệp ĐH, CĐ và trường nghề quá mất cân đối. Cơ cấu cung lao động mất cân đối thể hiện trước hết ở quan hệ giữa lao động có trình độ đại học với lao động có trình độ cao đẳng và công nhân kỹ thuật.

Quan hệ này thường được nhắc tới như “thừa thầy - thiếu thợ”. Đối với lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học hay trường nghề, hạn chế thứ hai là kiến thức, kỹ năng có được từ trường đào tạo còn có khoảng cách lớn đối với thực tiễn công việc đòi hỏi. Chính vì 7 vậy, sau khi tuyển xong, nhiều doanh nghiệp đã phải tổ chức đào tạo lại, hoặc gửi đi đào tạo trước khi có thể sử dụng được họ. Khoảng cách đối với yêu cầu của người sử dụng lao động có thể xem xét trên các mặt: kinh nghiê ̣m, kiến thức cập nhật, kỹ năng thích nghi, ngoại ngữ, khả năng giao tiếp… Những khía cạnh này ít được đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong quá trình học tập.

- Tính chuyên nghiệp của một bộ phận lao động thanh niên chưa cao. Cũng như lao động ở các độ tuổi khác, một bộ phận lao động thanh niên chưa có tác phong làm việc chuyên nghiệp, nhất là với lực lượng lao động phổ thông, xuất thân từ nông thôn, nên ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những qui định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội qui lao động… nên không dễ cho lao động phổ thông tìm việc. Lối sống hợp tác trong công việc với đồng nghiệp, tuân thủ sự chỉ đạo của cán bộ quản lý còn yếu. Cũng giống như lao động phổ thông, lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo còn mang nặng tác phong của người lao động ở một nước có phần đông lao động làm việc ở nông thôn, trong khu vực nông nghiệp.

Do nhiều nội dung, nhiều khía cạnh không được trang bị trong trường đào tạo nên họ ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những qui định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội qui lao động… - Tâm lý kén việc của người lao động thanh niên: Người lao động phổ thông là thanh niên, mặc dù không có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhưng về mặt tâm lý, hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn. Thêm vào đó, đa số hiện nay thanh niên muốn làm việc ở khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân. Với lao động qua đào tạo cũng có tâm lý kén việc. Hầu hết, muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn.

Thêm vào đó gần như đa số muốn làm việc ở khu vực nhà nước; chỉ ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân. Trong khi khu vực kinh tế tư nhân là khu vực dẫn đầu về tạo việc làm thì những tâm lý như vậy sẽ là rào cản cho việc hội nhập vào thị trường lao động. 8 - Thiếu năng động trong tìm kiếm việc làm. Đây là điểm yếu chung của lao động thanh niên Việt Nam.

Việc quá lệ thuộc vào các trợ giúp bên ngoài có thể là một trong những hạn chế lớn nhất của lao động thất nghiệp, chưa có việc làm. Khái niệm và phân loại việc làm 1. Khái niệm Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm. Về tổng thể, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.

Việc làm gắn với quá trình tăng thu nhập, giảm sự nghèo khổ của người lao động, đồng thời không đi ngược lại lợi ích cộng đồng mà pháp luật qui định. Nói cách khác, việc làm là công việc, những hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm và mang lại thu nhập cho bản thân hoặc tạo điều kiện để tăng thu nhập cho các thành viên trong gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) “khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động”. Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc .) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình.

Vì vậy, “việc làm có thể định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [Văn kiện Hội nghị 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa X]. Theo khái niệm này, người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện vật). “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” [Trần Xuân Cầu, 2009]. Quan niệm về việc làm ở Việt Nam được ghi rõ trong bộ Luật Lao động sửa đổi năm 2012 tại Điều 9, theo đó, “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [Bộ Luật Lao động sửa đổi năm 2012].

Khái niệm việc làm của Bộ Luật lao động Việt Nam được cụ thể hóa, có thể thể hiểu dưới ba dạng hoạt động sau: 9 - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai tiêu thức: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.

Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp việc làm cho thanh niên huyện đảo Quảng Ninh" tập trung vào các chiến lược và biện pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên tại khu vực huyện đảo Quảng Ninh. Nội dung chính bao gồm phân tích thực trạng thị trường lao động, đề xuất các giải pháp cụ thể như đào tạo kỹ năng, hỗ trợ khởi nghiệp, và thu hút đầu tư để tạo cơ hội việc làm bền vững. Tài liệu này mang lại lợi ích thiết thực cho độc giả, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp, và thanh niên đang tìm kiếm cơ hội việc làm tại địa phương.

Để hiểu sâu hơn về các giải pháp kinh tế và quản lý liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, nơi cung cấp góc nhìn chi tiết về phát triển doanh nghiệp tại các khu vực tương tự. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh biện pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Agribank sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại BIDV cung cấp thêm góc nhìn về cải thiện hiệu quả kinh doanh, một yếu tố quan trọng trong việc tạo việc làm bền vững.