Mở đầu Chƣơng I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng II. Phƣơng pháp nghiên cứu và số liệu Chƣơng III. Giải pháp truyền thông về biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cƣ Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Thời tiết là trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể đƣợc xác định bởi các đại lƣợng vật lí đo đƣợc nhƣ nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mƣa, v. (gọi là các yếu tố khí tƣợng) và các hiện tƣợng quan sát đƣợc nhƣ nắng, mƣa, bão, dông, sƣơng mù, v. Thời tiết thƣờng thay đổi trong khoảng thời gian ngắn theo ngày, giờ hoặc ngắn hơn.
Khí hậu là sự tổng hợp trạng thái thời tiết ở một địa điểm nhất định, đặc trƣng bởi các giá trị thống kê trung bình và các cực trị đo đƣợc hoặc quan sát đƣợc của các yếu tố và hiện tƣợng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thƣờng là hàng chục năm. Một cách đơn giản, có thể hiểu khí hậu là trạng thái trung bình và những cực trị của thời tiết, đƣợc xác định trên một khoảng thời gian đủ dài ở một nơi nào đó. Do vậy, khác với thời tiết, khí hậu có tính ổn định tƣơng đối [7]. Biến đổi khí hậu, theo IPCC 2007, là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu so với trạng thái trung bình trong một khoảng thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [20]. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển. Chƣơng trình mục tiêu Quốc Gia ứng phó với BĐKH đã định nghĩa “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển hoặc trong quản lý sử dụng đất”[11].
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tƣơng lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mực nƣớc biển dâng. Lƣu ý rằng, kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉ đƣa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế - xã hội và hệ thống khí hậu [16]. Đánh giá tác động do biến đổi khí hậu (UNEP, 2009) thƣờng đƣợc dựa trên các kịch bản của BĐKH trong tƣơng lai và đƣợc biểu hiện nhƣ thay đổi về nhiệt độ, lƣợng mƣa, mực nƣớc biển dâng và những thông tin khác. Có thể phân tích những thay đổi và xu hƣớng trong các thông số khí hậu bằng cách sử dụng trƣờng thông tin và dữ liệu sẵn có [29].
Đánh giá tác động do BĐKH là nghiên cứu xác định các ảnh hƣởng của BĐKH lên môi trƣờng và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phƣơng, bao gồm các ảnh hƣởng bất lợi và các ảnh hƣởng có lợi. Bên cạnh đó, đánh giá tác động của BĐKH cũng bao gồm việc xác định và đánh giá các giải pháp thích ứng với BĐKH [16]. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu: do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo. Hầu hết giới khoa học đều công nhận BĐKH là do nồng độ của khí nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao.
Khi nồng độ các khí nhà kính (Gồm: Hơi nƣớc, CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC) trong khí quyển tăng lên làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất nóng lên, tạo ra các biến đổi trong các vấn đề thời tiết. Các yếu tố tự nhiên có thể làm cho khí hậu của trái đất thay đổi bao gồm sự thay đổi về cƣờng độ bức xạ của mặt trời, sự thay đổi chậm về quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời, các hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất, các hoạt động núi lửa, sự thay đổi chuyển động của các dòng hải lƣu trong các đại dƣơng [7]. Các hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển (ví dụ đốt nhiên liệu hóa thạch) và làm thay đổi bề mặt trái đất (nhƣ nạn phá rừng, canh tác nông nghiệp, đô thị hóa,…) [7]. Phần lớn các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân do con ngƣời đƣợc xác định là chủ yếu.
Hoạt động của con ngƣời bao gồm sử dụng năng lƣợng từ nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên.), chặt phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất; đã và đang làm gia tăng nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH [16]. Nhƣ vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH. Thích ứng với BĐKH (Adaptation) là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [20].
Giảm nhẹ BĐKH (Mitigation) là sự can thiệp của con ngƣời nhằm làm giảm nhẹ áp lực lên hệ thống khí hậu; bao gồm chiến lƣợc giảm nguồn phát thải khí nhà kính và tăng bể chứa khí nhà kính [21]. Năng lực thích ứng và giảm nhẹ phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội, môi trƣờng và tính chủ động của hệ thống thông tin và trình độ của mỗi quốc gia, khu vực, địa phƣơng. Cộng đồng dân cư: Trong các cuốn từ điển tiếng Việt, không có khái niệm cộng đồng dân cƣ mà chỉ có khái niệm về cộng đồng hay cộng đồng xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, cộng đồng đƣợc hiểu là "chung nhau và công khai".
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, cộng đồng xã hội là một tập đoàn ngƣời, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm sinh tụ và cƣ trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc. Nhƣ vậy, cộng đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát. Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, tín ngƣỡng, tâm lý, lối sống.
Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội. Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn [32]. Tuy vậy, khi sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật (dân sự, đất đai, môi trƣờng), thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng là cộng đồng dân cƣ. Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều ngƣời nhằm tăng cƣờng hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của công đồng xã hội [8].
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Truyền thông thông tin bao gồm các yếu tố [4]: - Thành phần chính của một quá trình truyền thông thông tin gồm: ngƣời gửi và ngƣời nhận. - Công cụ truyền thông chủ yếu gồm: thông điệp và phƣơng tiện truyền thông - Các chức năng của truyền thông thông tin gồm: mã hóa, giải mã, phản ứng và phản hồi. - Yếu tố cuối cùng là sự nhiễu thông tin trong hệ thống này. Những yếu tố trên đƣợc giải thích nhƣ sau: - Người gửi: là bên gửi thông điệp cho một bên khác; - Mã hóa: là quá trình diễn dịch tƣ duy thành hình thức biểu tƣợng; - Thông điệp: là tập hợp các biểu tƣợng mà ngƣời gửi chuyển đi; - Phương tiện truyền thông: là những kênh truyền thông mà thông qua đó thông điệp di chuyển từ ngƣời gửi đến với ngƣời nhận; - Giải mã: là quá trình mà nhờ đó ngƣời nhận ấn định ý nghĩa cho các biểu tƣợng đã đƣợc mã hóa bởi ngƣời gửi; - Người nhận: là bên tiếp nhận thông điệp đƣợc gửi từ một bên khác; - Phản ứng: là hành động phản hồi của ngƣời nhận sau khi xem thông điệp; - Thông tin phản hồi: là một phần phản ứng của ngƣời nhận đƣợc truyền thông ngƣợc lại cho ngƣời gửi; - Nhiễu thông tin: là trạng thái ngoài dự kiến hay sự méo mó của thông tin xảy ra trong suốt quá trình truyền thông thông tin, nó gây hậu quả là ngƣời nhận sẽ tiếp nhận một thông điệp khác hẳn so với thông điệp ban đầu của ngƣời gửi.
Một số phƣơng thức truyền thông chủ yếu thƣờng đƣợc sử dụng, gồm: - Truyền thông một chiều: Bằng phƣơng thức này ngƣời truyền thông gửi thông điệp truyền thông tới ngƣời nhận thông điệp truyền thông qua kênh truyền thông mà không có điều kiện nhận đƣợc sự phản hồi của đối tƣợng truyền thông [6]. Ví dụ nhƣ các thông điệp mang tính chất thông báo nhƣ thời gian họp, tin phát khẩn cấp (hỏa hoạn, lũ lụt,. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Truyền thông hai chiều: Thông điệp đƣợc trao đổi giữa ngƣời gửi và ngƣời nhận thông điệp thông qua các kênh truyền thông. Ngƣời gửi có thể nhận đƣợc thông tin phản hồi từ phía ngƣời nhận và quá trình này có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần [6].
Truyền thông hai chiều đƣợc sử dụng trong các chƣơng trình thăm dò ý kiến, dƣ luận xã hội về chủ trƣơng, chính sách, dự án,.hoặc về một sản phẩm, dịch vụ, chƣơng trình,.cần tham khảo ý kiến rộng rãi, nhằm đạt đƣợc sự đồng thuận của ngƣời dân trƣớc khi triển khai.