Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hoạt động thương mại đối ngoại của Việt Nam ghi nhận sự phát triển liên tục, đặc biệt là dấu mốc Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020. Sự kiện này mang lại cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng đặt ra yêu cầu tái cấu trúc và chuẩn hóa hoạt động thanh toán ngoại thương. Thanh toán quốc tế (TTQT) giữ vai trò huyết mạch kết nối nền kinh tế nội địa với thị trường toàn cầu. Đối với hệ thống ngân hàng thương mại, sự gia tăng nhu cầu của khách hàng cá nhân (KHCN), khách hàng doanh nghiệp (KHDN) lớn cùng khối doanh nghiệp vừa và nhỏ về các sản phẩm thanh toán xuất nhập khẩu (XNK) an toàn, nhanh chóng đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải không ngừng đổi mới quy trình và nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ. Xuất phát từ bối cảnh đó và quá trình thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), tác giả Nguyễn Minh Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy mảng nghiệp vụ này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung chính:

  1. Nghiên cứu thực trạng phát triển hoạt động TTQT tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng giai đoạn 2018–2020.
  2. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện và phát triển hoạt động TTQT tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng với định hướng đến năm 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Hội sở chính VPBank, địa chỉ tại số 89 Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và thực tiễn hoạt động kinh doanh giai đoạn 2018–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu và giáo trình chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam. Tác giả tiếp cận khái niệm TTQT theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến (2016) và Hoàng Văn Hải (2015), xác định TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân giữa các quốc gia hoặc với tổ chức quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng. Đặc điểm của TTQT được hệ thống hóa theo Đinh Xuân Trình (2012), bao gồm tính chất phục vụ chủ yếu cho kinh tế đối ngoại, chịu rủi ro biến động tiền tệ, sự điều chỉnh bắt buộc của các tập quán và luật pháp quốc tế như Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600), Quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC 522), Điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms), vai trò trung gian thanh toán bắt buộc của ngân hàng và việc sử dụng các công cụ thanh toán phi tiền mặt (hối phiếu, kỳ phiếu, séc).

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các lý thuyết về phương thức thanh toán của Ngô Kim Thanh (2011) và Hà Văn Hội (2012) để làm rõ bản chất quy trình các phương thức: chuyển tiền (bằng thư M/T, bằng điện T/T), ghi sổ (Open Account), nhờ thu (nhờ thu phiếu trơn - Clean Collection, nhờ thu kèm chứng từ - Documentary Collection gồm D/P và D/A), và tín dụng chứng từ (L/C với các biến thể: L/C không thể hủy ngang, L/C trả ngay, L/C trả chậm, L/C xác nhận, L/C không truy đòi, L/C tuần hoàn, L/C giáp lưng, L/C đối ứng, L/C điều khoản đỏ, L/C dự phòng, L/C chuyển nhượng theo Điều 38 UCP 600). Khung chỉ tiêu đánh giá sự phát triển TTQT được tổng hợp từ quan điểm của Nguyễn Văn Tiến (2018) và Trịnh Thị Ngọc Hân (2010), gồm cả tiêu chí định lượng (doanh số TTQT, cơ cấu phương thức, số món giao dịch, thị phần hoạt động, thu nhập thuần từ phí, chất lượng tín dụng XNK) và tiêu chí định tính (chất lượng phục vụ, kiểm soát rủi ro, số vụ tranh chấp phát sinh).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin: Khai thác dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo nội bộ của VPBank, các thông tư, báo cáo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao; kết hợp phương pháp quan sát thực tế quy trình xử lý nghiệp vụ tại Phòng Tài trợ thương mại - Hội sở chính VPBank.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu, so sánh số đối ứng và tỷ trọng qua các năm để lập hệ thống bảng biểu, biểu đồ minh họa về quy mô, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu doanh số TTQT. Từ kết quả định lượng, tác giả áp dụng phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm làm rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan chi phối kết quả hoạt động.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển thanh toán quốc tế tại hệ thống ngân hàng thương mại

Chương này chuẩn hóa hệ thống khái niệm, phân loại TTQT thành hai mảng tách biệt: thanh toán ngoại thương (gắn với hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ ngoại thương) và thanh toán phi ngoại thương (chi trả kiều hối, ngoại giao, quà biếu). Tác giả phân tích chi tiết bốn điều kiện cơ bản trong hợp đồng thanh toán gồm điều kiện tiền tệ, địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán (trả trước, trả ngay, trả sau) và phương thức thanh toán.

Nghiên cứu làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển TTQT thành hai nhóm: nhân tố khách quan (chính sách thuế, chính sách kinh tế đối ngoại, quản lý ngoại hối, sự ổn định chính trị - xã hội, mức độ cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng) và nhân tố chủ quan nội tại ngân hàng (trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và am hiểu luật pháp của cán bộ TTQT, định hướng chiến lược kinh doanh của ban lãnh đạo, nền tảng hạ tầng công nghệ ngân hàng). Phát triển TTQT được nhìn nhận toàn diện ở cả sự tăng trưởng về quy mô (doanh số, số lượng giao dịch, khách hàng) và sự chuyển biến về chất lượng (tốc độ thanh toán, độ chính xác, an toàn, giảm thiểu tranh chấp).

Chương 2: Thực trạng phát triển thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng

Chương 2 trình bày tổng quan về VPBank (thành lập ngày 12/08/1993, trụ sở chính tại 89 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội). Đến thời điểm khảo sát, ngân hàng sở hữu 227 điểm giao dịch với quy mô gần 27.000 nhân sự. Mảng TTQT được tổ chức trực thuộc Phòng Tài trợ thương mại với mô hình 1 trưởng phòng và 4 phó phòng phụ trách 4 nhóm chuyên môn: nhóm hồ sơ, nhóm phát hành, nhóm chứng từ, nhóm thanh toán quốc tế. Cơ chế nhân sự áp dụng luân chuyển định kỳ 3 tháng/lần nhằm đảm bảo tính bao quát nghiệp vụ cho chuyên viên.

Về kết quả kinh doanh tổng thể giai đoạn 2018–2020, thu nhập lãi thuần của VPBank tăng từ mức ghi nhận năm 2018 lên 12.572 tỷ đồng năm 2019 (+21,02%) và đạt 14.504 tỷ đồng năm 2020 (+18%). Lợi nhuận sau thuế năm 2018 đạt 6.873 tỷ đồng, năm 2019 tăng lên 7.095 tỷ đồng (+7,89%). Năm 2020, dù chịu tác động của dịch Covid-19, lợi nhuận trước thuế hợp nhất của ngân hàng vẫn đạt 13.019 tỷ đồng (vượt 9% kế hoạch).

Đi sâu vào mảng TTQT, tác giả phân tích dữ liệu thống kê từ các báo cáo nội bộ của VPBank:

Chỉ tiêu thanh toán quốc tế Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Tổng doanh số TTQT (nghìn USD) 558.000 ~570.070 732.458
- Doanh số thanh toán nhập khẩu 472.034 - 621.064
- Doanh số thanh toán xuất khẩu 85.966 - 111.394
Cơ cấu theo phương thức (%)
- Tín dụng chứng từ (L/C) 49,21% - 67,43%
- Nhờ thu ~31,77% - 20,55%
- Chuyển tiền 19,02% - 12,02%
Hoạt động phương thức L/C
- L/C xuất khẩu: Số món 323 511 648
- L/C xuất khẩu: Doanh số (nghìn USD) 64.671 102.000 164.615
- L/C nhập khẩu: Số món 675 - -
- L/C nhập khẩu: Doanh số (nghìn USD) 210.003 - -
Hoạt động phương thức nhờ thu
- Tổng doanh số nhờ thu (nghìn USD) ~175.750 187.256 152.520
- Nhờ thu nhập khẩu: Số món - 289 129
- Nhờ thu nhập khẩu: Doanh số (nghìn USD) 63.300 82.527 41.000
- Nhờ thu xuất khẩu: Số món 384 357 372
- Nhờ thu xuất khẩu: Doanh số (nghìn USD) 112.570 - 108.000
Hoạt động phương thức chuyển tiền
- Tổng số món / Doanh số (nghìn USD) 1.233 / 107.174 - / 99.174 - / 88.000
- Chuyển tiền đến (tỷ trọng %) 89% 84% 80%
- Chuyển tiền đi (tỷ trọng %) 11% 16% 20%
- Chuyển tiền đi: Số món 352 492 -
Chỉ tiêu chất lượng và quy mô khác
- Thị phần TT xuất khẩu tại Hà Nội (%) 0,31% 0,22% 0,13%
- Thị phần TT nhập khẩu tại Hà Nội (%) 0,57% - -
- Thị phần TTQT chung trên địa bàn Hà Nội (%) - - 0,27%
- Dư nợ cho vay XNK (tỷ đồng) 5.854 6.204 6.640
- Thu nhập từ phí chuyển tiền (USD) 388.295 - -

Phát hiện quan trọng của chương:

  • Doanh số thanh toán XNK duy trì đà tăng trưởng đều, từ 558 triệu USD năm 2018 lên 732,458 triệu USD năm 2020. Trong đó, doanh số thanh toán nhập khẩu áp đảo hoàn toàn, thường gấp xấp xỉ 5,5 lần doanh số xuất khẩu (năm 2018: nhập khẩu đạt 472.034 nghìn USD so với xuất khẩu 85.966 nghìn USD; năm 2020: nhập khẩu đạt 621.064 nghìn USD).
  • Sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu phương thức: Tỷ trọng L/C tăng nhanh từ 49,21% năm 2018 lên 67,43% năm 2020, phản ánh nhu cầu phòng ngừa rủi ro đối tác gia tăng trong bối cảnh thị trường bất ổn vì đại dịch. Ngược lại, phương thức chuyển tiền giảm dần tỷ trọng từ 19,02% xuống 12,02% và doanh số giảm từ 107.174 nghìn USD xuống 88.000 nghìn USD do rủi ro phương thức này cao.
  • Nhờ thu xuất khẩu chiếm ưu thế áp đảo trong tổng doanh số nhờ thu (chiếm 55% năm 2019 và tăng lên 72% năm 2020), cho thấy các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn chấp nhận rủi ro khi dựa nhiều vào quan hệ tin cậy với bạn hàng để tiết kiệm chi phí.
  • Thị phần TTQT của VPBank so với quy mô xuất nhập khẩu của thành phố Hà Nội còn rất khiêm tốn: Tỷ trọng doanh số xuất khẩu giảm dần từ 0,31% (2018) xuống 0,22% (2019) và còn 0,13% (2020). Tính chung năm 2020, doanh thu TTQT của ngân hàng chỉ chiếm 0,27% tổng kim ngạch XNK toàn thành phố.
  • Về nguồn thu, phương thức L/C đóng góp tỷ trọng áp đảo, mang lại trên 70% tổng thu nhập từ hoạt động TTQT của ngân hàng. Dư nợ cho vay XNK tăng trưởng từ 5.854 tỷ đồng năm 2018 lên 6.204 tỷ đồng năm 2019 (+5,98%) và tiếp tục tăng hơn 7% trong năm 2020.

Chương 3: Giải pháp phát triển thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng

Trên cơ sở phân tích thực trạng, chương 3 đối chiếu với định hướng chiến lược của VPBank giai đoạn 2018–2022 (hướng tới mục tiêu trở thành ngân hàng thân thiện nhất với người tiêu dùng nhờ ứng dụng công nghệ và nằm trong nhóm 3 ngân hàng giá trị nhất Việt Nam) cùng tầm nhìn đến năm 2025. Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể cho VPBank:

  1. Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại: Tiếp tục tập trung hóa, tự động hóa và số hóa quy trình xử lý giao dịch tài trợ thương mại; nâng cấp hệ thống kết nối thanh toán điện tử nhằm rút ngắn thời gian xử lý chứng từ, tăng cường tính bảo mật dữ liệu khách hàng.
  2. Nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên TTQT: Tăng cường đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ ngoại thương, các phiên bản tập quán quốc tế mới (UCP, ISBP, Incoterms), nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành và kỹ năng kiểm tra tính chân thực của bộ chứng từ. Duy trì hiệu quả cơ chế luân chuyển cán bộ 3 tháng/lần giữa các nhóm (hồ sơ, phát hành, chứng từ, TTQT) để cán bộ nắm vững quy trình tổng thể.
  3. Đẩy mạnh hoạt động marketing: Tăng cường quảng bá các gói sản phẩm TTQT, xây dựng các chương trình truyền thông hướng tới phân khúc doanh nghiệp XNK, đặc biệt là nhóm KHDN vừa và nhỏ (SME) nhằm mở rộng nhận diện thương hiệu dịch vụ tài trợ thương mại của VPBank.
  4. Xây dựng chiến lược thu hút khách hàng: Hoàn thiện chính sách biểu phí dịch vụ cạnh tranh, linh hoạt; cung cấp các gói giải pháp tài chính trọn gói kết hợp giữa thanh toán quốc tế, cấp tín dụng tài trợ XNK và bảo hiểm rủi ro tỷ giá (hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn) nhằm thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng truyền thống.

Bên cạnh giải pháp nội bộ, tác giả đề xuất các kiến nghị vĩ mô:

  • Kiến nghị đến Chính phủ và các Bộ, ban ngành: Cần hoàn thiện khung pháp lý về thương mại điện tử và giao dịch xuyên biên giới; đơn giản hóa thủ tục hải quan; hỗ trợ thông tin thị trường xuất khẩu cho doanh nghiệp.
  • Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước: Duy trì chính sách tỷ giá linh hoạt, ổn định thị trường ngoại hối; hoàn thiện các hướng dẫn về quản lý ngoại hối phù hợp với các cam kết FTA thế hệ mới; hỗ trợ các NHTM trong việc tiếp cận các chuẩn mực thanh toán quốc tế tiên tiến.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh đầy đủ bức tranh vận hành của mảng TTQT tại VPBank qua hệ thống số liệu thực tế giai đoạn 2018–2020:

  • Ghi nhận sự tăng trưởng của tổng doanh số TTQT từ 558.000 nghìn USD (2018) lên 732.458 nghìn USD (2020).
  • Làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng gia tăng tỷ trọng phương thức L/C (từ 49,21% lên 67,43%) và sụt giảm của phương thức chuyển tiền (từ 19,02% xuống 12,02%).
  • Xác định tỷ trọng nguồn thu từ phí L/C chiếm hơn 70% tổng thu nhập từ dịch vụ TTQT của ngân hàng; dư nợ cho vay XNK tăng đều từ 5.854 tỷ đồng (2018) lên trên 6.640 tỷ đồng (2020).
  • Chỉ ra điểm hạn chế cốt lõi về thị phần khi hoạt động TTQT của VPBank mới chỉ chiếm 0,27% kim ngạch XNK toàn thành phố Hà Nội trong năm 2020.

Đóng góp của nghiên cứu so với các công trình trước đây: Trong phần tổng quan, tác giả đã điểm qua các nghiên cứu của Trần Thị Anh (2015) tại Techcombank, Võ Xuân Thúy (2015) tại VietinBank và Lê Thị Bảo Thoa (2012) tại Agribank. Điểm hạn chế chung của các nghiên cứu trước là tiếp cận vấn đề chủ yếu dưới góc độ quy trình nghiệp vụ thuần túy mà chưa phân tích sâu kết quả quy mô và cơ cấu vận hành thực tế. Khóa luận này đã khắc phục khoảng trống đó bằng cách khai thác chi tiết chuỗi số liệu định lượng về cơ cấu sản phẩm (L/C xuất - nhập, nhờ thu xuất - nhập, chuyển tiền đến - đi), thị phần so với địa bàn và mức đóng góp lợi nhuận tại một NHTMCP cụ thể là VPBank.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn do điều kiện nghiên cứu:

  • Tác giả tự nhìn nhận trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên việc đánh giá chuyên sâu về kỹ thuật xử lý tranh chấp chứng từ quốc tế chưa thật toàn diện.
  • Dữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi 3 năm (2018–2020) và tập trung khảo sát tại Hội sở chính VPBank (Hà Nội), chưa bao quát được toàn bộ mạng lưới chi nhánh trên phạm vi toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2020 để đánh giá đầy đủ tác động phục hồi sau đại dịch Covid-19 và việc thực thi các hiệp định thương mại như EVFTA, CPTPP; đồng thời mở rộng phạm vi đánh giá trên toàn hệ thống mạng lưới chi nhánh VPBank hoặc tiến hành so sánh đối chuẩn (benchmarking) trực tiếp với các NHTMCP cùng quy mô.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế tham khảo về phương pháp xây dựng đề tài phân tích thực trạng hoạt động TTQT tại một ngân hàng thương mại cụ thể.
  • Cán bộ nghiệp vụ tại các ngân hàng thương mại quan tâm đến việc đánh giá cơ cấu phương thức thanh toán, tỷ trọng doanh số L/C, nhờ thu, chuyển tiền và kinh nghiệm luân chuyển cán bộ nội bộ tại phòng Tài trợ thương mại.
  • Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống chỉ tiêu phân tích thực trạng ở Chương 2, đặc biệt là cách bóc tách chi tiết cơ cấu hai chiều (xuất khẩu và nhập khẩu) trong từng phương thức thanh toán và phương pháp so sánh doanh số ngân hàng với kim ngạch XNK trên địa bàn địa phương để xác định thị phần thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương thức thanh toán nào chiếm tỷ trọng cao nhất tại VPBank trong giai đoạn 2018–2020?
Phương thức tín dụng chứng từ (L/C) chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng tăng mạnh từ 49,21% (năm 2018) lên 67,43% (năm 2020), đóng góp hơn 70% tổng thu nhập từ hoạt động TTQT của ngân hàng.

2. Tỷ lệ giữa doanh số thanh toán nhập khẩu và xuất khẩu tại VPBank có đặc điểm gì?
Doanh số thanh toán nhập khẩu chiếm tỷ trọng áp đảo hoàn toàn so với xuất khẩu. Năm 2018, doanh số nhập khẩu đạt 472.034 nghìn USD, gấp gần 5,5 lần doanh số xuất khẩu (85.966 nghìn USD). Đến năm 2020, doanh số nhập khẩu tăng lên 621.064 nghìn USD trong khi xuất khẩu đạt 111.394 nghìn USD.

3. Hoạt động TTQT tại VPBank được tổ chức tại phòng ban nào và có cơ chế quản trị nhân sự ra sao?
Hoạt động TTQT là một bộ phận trực thuộc Phòng Tài trợ thương mại tại Hội sở chính. Phòng gồm 1 trưởng phòng và 4 phó phòng phụ trách 4 nhóm nghiệp vụ: nhóm hồ sơ, nhóm phát hành, nhóm chứng từ và nhóm thanh toán quốc tế. Định kỳ 3 tháng một lần, ngân hàng thực hiện điều chuyển, luân phiên nhân sự giữa các nhóm để đảm bảo chuyên viên nắm vững toàn bộ quy trình tài trợ thương mại.

4. Thị phần hoạt động TTQT của VPBank so với kim ngạch XNK của thành phố Hà Nội đạt mức bao nhiêu?
Thị phần TTQT của VPBank trên địa bàn Hà Nội ở mức khiêm tốn. Đối với xuất khẩu, thị phần giảm dần qua các năm: 0,31% (2018), 0,22% (2019) và 0,13% (2020). Tính chung cho cả hoạt động xuất nhập khẩu, doanh số TTQT của VPBank năm 2020 chỉ chiếm 0,27% tổng kim ngạch XNK toàn thành phố.

5. Vì sao doanh số phương thức chuyển tiền tại VPBank có xu hướng sụt giảm liên tục?
Doanh số chuyển tiền giảm từ 107.174 nghìn USD (2018) xuống 99.174 nghìn USD (2019) và còn 88.000 nghìn USD (2020). Nguyên nhân là do mức độ rủi ro của phương thức này cao nhất, đòi hỏi sự tin tưởng tuyệt đối giữa các đối tác; trong bối cảnh dịch bệnh và kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp đã chủ động chuyển dịch sang phương thức L/C để tăng tính an toàn trong giao dịch.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Anh đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về phát triển thanh toán quốc tế trong hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời phản ánh chi tiết thực trạng quy mô, cơ cấu dịch vụ và thị phần tại Hội sở chính VPBank giai đoạn 2018–2020. Nghiên cứu chỉ ra sự tăng trưởng tích cực về doanh số thanh toán và sự chuyển dịch đúng hướng sang phương thức L/C có độ an toàn cao, song cũng thẳng thắn chỉ rõ điểm nghẽn về thị phần còn rất nhỏ trên địa bàn Hà Nội. Hệ thống 4 nhóm giải pháp nội bộ và các kiến nghị vĩ mô được đề xuất bám sát định hướng phát triển của VPBank đến năm 2025, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản trị và phát triển dịch vụ thanh toán ngoại thương tại các ngân hàng thương mại cổ phần.