đặt vấn đề về đảm bảo cho vay của chúng cũng rất khác nhau. NHTW quan tâm đến các vấn đê này vì lợi ích chung của cả hệ thống ngân hàng, của toàn bộ nên kinh tê. Cac NHTM quan tâm đến các vấn đề này để đảm bảo chiến lược phát triển và nhằm mục tiêu lợi nhuận cao của từng ngân hàng. 13 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn đòi hỏi xu thế an toàn và ổn định, thể hiện ở các mặt sau đây: a.
Hoạt động của các ngân hàng: Lịch sử nghiệp vụ ngân hàng đã ghi nhận nhiều trường họp ngân hàng phá sản và khủng hoảng ngân hàng: - Khủng hoảng ngân hàng đi theo suy thoái kinh tế 1929-1933: Trong vòng 4 năm (1930-1933) làn sóng phá sản ngân hàng tràn từ nước Áo, Đức, Anh sang Mỹ.096 ngân hàng phải ngừng hoạt động, gây ra sự mất mát cho người gửi tiên, cho cổ đông và các chủ nợ đến 2,5 tỷ USD và dẫn đến thắt chặt đáng kể cung ứng tiền tê. - Một loạt đổ bể ngân hàng từ giữa những năm 1970 đến giữa những năm 1980: Năm 1974 chứng kiến sự thất bại của ngân hàng Bankhaus Herstatt của Đức, Ngân hàng quốc gia Franklin của Mỹ, Ngân hàng lớn thứ 12 ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng ngân hàng thứ hai ở Anh đã dẫn đến sự đổ bể của một số ngân hàng, làm rung chuyển hệ thống tài chính nước này, đồng thời đe dọa cả Công ty bảo hiểm lớn nhất lúc đó. Năm 1984 do có nhiều ngân hàng sụp đổ nên xẩy ra việc điều chỉnh bằng sự sát nhập nhiều ngân hàng của " Ngân hàng Jonh-Matthey" của Anh, "Ngân hàng Continental Illinois" của Mỹ.
Hai năm 1984-1985 người ta cũng chứng kiến sự sụp đổ của ngân hàng lớn thứ 7 ở Đan mạch, cuộc cứu chữa cho ngân hàng lớn nhất của Aixơlen khi công ty bảo hiểm của nó bị lỗ vốn nặng nề. - Bài học của Ngân hàng Barings là ngân hàng lâu đời (1762 - 1995) và có uy tín nhất tại Anh đổ vỡ năm 1995 cho thấy rủi ro và phá sản không loại trừ bất cứ một ngân hàng nào. Như vậy, nếu không có sự an toàn và ổn định thì các ngân hàng sẽ không tồn tại và phát triển được để đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp là khách hàng vay vốn và giao dịch với ngân hàng cũng thường xuyên gặp phải những rủi ro nhất định.
Ở Cộng hòa liên bang Đức, nếu trong những năm kinh tế bị khủng hoảng, như năm 1967 chỉ có 3930 doanh nghiệp tuyên bố phá sản, thì ở những năm kinh 'tế không bị lâm vào tình trạng khủng hoảng, như năm 1981 có 11.590 doanh nghiệp 14 phá sản với sô' tiền bị vỡ nợ là 15 tỷ Mác và năm 1985 khoảng 19.200 doanh nghiệp bị phá sản. Còn ở Mỹ, 7 tháng đầu năm 1992 có 59.188 công ty bị phá sản, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước (1991). Riêng tháng 7/1992 Mỹ có 8580 công ty bị phá sản, tăng 11,6% so với tháng 7/1991. Trước đó, năm 1990 Mỹ có 60.432 công ty bị phá sản (tăng 20% so với năm 1989) với số tiền bị vỡ nợ là 64 tỷ USD (tăng 51,3 % so với năm 1989) [59].
Theo số liệu thống kê và nghiên cứu kinh tế của Pháp, Năm 1990 Pháp có số doanh nghiệp bị phá sản là 47. Đặc biệt, số doanh nghiệp bị phá sản năm 1991 gần gấp đôi số doanh nghiệp mới thành lập của năm này (1991) [58; 60]. Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì phải hoạt động sinh lời. Môi trường khách hàng như vậy đòi hỏi các ngân hàng phải lựa chọn khách hàng qua việc nắm thông tin, phân tích và đánh giá khách hàng chính xác, đồng thời phải có những biên pháp phòng ngừa và chống đỡ các rủi ro lan truyền.
Hiện nay người gửi tiền không đơn thuần là người chỉ gửi tiền như trước đây. Khách hàng gửi tiền đã có độ nhậy cảm rất cao với thị trường. Họ gửi tiền để nhằm mục đích sinh lời, chứ không chỉ đơn thuần là bảo quản tiền tại ngân hàng. Cạnh tranh cho phép họ lựa chọn phương pháp giữ tiền có lợi nhất.
Do vậy, các yếu tố như tâm lý, thói quen, tập quán. đều có tác động đến nhóm khách hàng này và họ có thể gây những ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng, thậm chí đến mức phá sản. Bởi vậy các ngân hàng phải tính đến các yếu tố này trong hoạt động của mình. Như vậy, ngoài việc phải đảm bảo an toàn cho người gửi tiền, vấn đề đảm bảo an toàn cho hoạt động của NHTM cũng ngày càng được chú ý cao hơn, các biên pháp áp dụng càng nhiều và có hiệu quả hơn cả về phương diên quản lý của nhà nước, cả về phương diện nghiệp vụ của NHTM.
Đó chính là vì sự an toàn và ổn định ưong kinh doanh của NHTM là sự đảm bảo chất lượng của cơ sở hạ tầng - dịch vụ ngân hàng - cho mục tiêu phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường. Hoạt động của các ngân hàng phải đảm bảo an toàn và ổn định bởi hoạt động của ngân hàng là lĩnh vực rất nhậy cảm. Nếu không đảm bảo như vậy thì những rủi ro xẩy ra frong hoạt động ngân hàng sẽ có tác động ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt 15 đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước. Do vậy, đảm bảo an toàn và ổn định trong hoạt động của ngân hàng là cần thiết hơn nhiều so với bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào khác của nền kinh tế.
ĐẢM BẢO CHO VAY LÀ ĐlỂU KIỆN QUAN TRỌNG CỦA QUAN HỆ GIỮA NGÂN HÀNG VÀ KHÁCH HÀNG. Quan điểm tiếp cận vấn đề đảm bảo cho vay của NHTM. Đảm bảo cho vay ở tầm vĩ mô. Đảm bảo cho vay theo nghĩa rông nhất bao gồm hai phương diện, đó là dam bảo an toàn cho vay ở tầm vĩ mô hay đàm bảo vì lợi ích chung của cả nên kinh tê và đảm bảo hoàn trả tiền vay là đảm bảo cho hoạt động tác nghiệp của các NHTM.
Đảm bảo cho vay hay đảm bảo an toàn cho vay của ngân hàng, vượt qua sự quan tâm của mỗi ngân hàng, hay là sự thống nhất mối quan tâm của từng ngân hàng với sự an toàn của toàn bộ hê thống tài chính - tín dụng được thể hiện ở "lưới an toàn" của Chính phủ. Thông thường nó bao gồm 3 cơ chế an toàn: Bảo hiểm tiền gửi; Tái cấp vốn, hoạt động thị trường mở, người cho vay cuối cùng; Kiểm ưa, kiểm soát vốn ngân hàng (dự trữ bắt buộc, vốn khả dụng.), hạn mức tín dụng và về thực thi luật lê nhằm phát hiên những ngân hàng "có vấn đề" và khuyến khích hành động sửa sai. Như vậy, hai cơ chế sau cuối chính là các cơ chế đảm bảo an toàn hoạt động cho vay ở tầm vĩ mô. Việc nới lỏng kiểm soát luật lê và những biến động ưong môi trường kinh tế đã làm thay đổi bản chất của thị trường mà các ngân hàng hoạt động.
Việc nới lỏng kiểm soát các thị trường tài chính đã góp phần làm tăng khả năng rủi ro, và như vậy đòi hỏi phải có cơ chế đảm bảo an toàn cho vay Chính vì vây, đảm bảo cho vay được thực hiện nhằm hai mục tiêu. Ngoài mục tiêu tạo nguồn thứ hai ưả nợ vay, hạn chế các khoản nợ quá hạn ưong cho vay, đảm bảo cho vay nhằm mục tiêu rất lớn là tạo môi trường kinh doanh tiền tệ ổn định, phát triển theo hướng thị ưường ưên cơ sở ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ 16 của các bên tham gia, trên cơ sở hoạt động chia sẻ rủi ro của các chủ thể. Thông qua hoạt động này rủi ro được các bên chia nhau gánh chịu và điều này làm cho các mối quan hệ được phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Đảm bảo đới với tài sản có và tài sản nợ.
Đối với một nền kinh tế yêu cầu lớn nhất là sự ổn định và phát triển. Đối với mỗi đơn vị kinh tế yêu cầu cụ thể là luôn luôn đảm bảo cân đối hợp lý tài sản có và tài sản nợ, luôn đảm bảo an toàn ưong bản thân từng nhóm tài sản. Đây là sự quan tâm của hai phía hoạt động của một doanh nghiệp. Điều này khác hẳn với quan niệm trước đây.
1 Trước đây, những rủi ro đầu tiên đối với ngân hàng dẫn đến phá sản trước hết xuất hiên ở tài sản nợ. Ngay cả khi người ta đã đưa ra một số giải pháp bảo vê nhưng rủi ro vẫn xuất hiên. Ví dụ, ở Mỹ sau 1980 mặc dù hệ thống bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt nhưng vẫn gặp khó khăn. Các ngân hàng vỡ nợ nhiều hơn.
Sau khi nghiên cứu các nguyên nhân, ngoài các đối sách như cấm các ngân hàng tiết kiệm và cho vay không được mua các trái khoán bấp bênh; tăng bắt buộc vốn tự có từ 3% lên tới 8% và tuân theo các tiêu chuẩn vốn dựa trên cơ sở rủi ro được áp đặt cho các NHTM như quy định các món cho vay bất động sản thương mại được giới hạn là gấp 4 lần vốn tự có chứ không phải là 40% tài sản có như trước đây. Hạn chế này là một sự cắt giảm đối với tất cả các tổ chức mà vốn nhỏ hơn 10% tài sản có. Thời gian sau này, đối với ngân hàng, an toàn tài sản có là hết sức quan trọng. Nói đêh an toàn tài sản có thì vấn đề hay được quan tâm trước hết là đảm bảo cho vay.
Ngay cả khi có những quan niêm thay đổi về hoạt động của NHTM thì cũng không phải vì thế mà sự quan tâm này giảm đi, ngược lại, lại có phần gia tăng. Trước đây, học thuyết cho vay thương mại cho rằng các NHTM chỉ cho vay các khoản ngắn hạn mà thôi, tối đa là 3 tháng và do cho vay ngắn hạn như vậy các NHTM có thể có được "khả năng tự thanh toán". Có nghĩa là các nguồn tiền để người đi vay trả nợ được dự tính sẽ xuất hiên cùng ngày với các khoản đi vay được. Ví dụ, người bán hàng thu được tiền trùng khớp với việc phải trả nợ cho ngân hàng.
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRUNG TÂM THỔNG TIN- THƯ VIỆN THƯ VIỆN 17 Số:. Ngày nay quan niệm này không còn được chấp nhận vì các NHTM đã cho vay các khoản dài hạn horn, và các khoản cho vay đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong doanh số kinh doanh của NHTM. Horn nữa, người đi vay lại muốn sử dụng vốn vay dài hem, do đó, khả năng tự thanh toán của ngân hàng cũng không phải là suôn sẻ.