phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các hình vẽ và bảng biểu, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng Chƣơng II: Thực trạng quản lý dự án đầu tƣ xây dựng trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2012-2018 Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện, công tác quản lý dự án đầu tƣ của Ban quản lý dự án đầu tƣ xây dựng khu vực huyện Yên Sơn 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1. Tổng quan về dự án đầu tƣ xây dựng 1. Khái niệm Dự án đầu tƣ xây dựng Khái niệm dự án đầu tƣ xây dựng đƣợc quy định tại Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 nhƣ sau: “Dự án đầu tƣ xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời gian và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ xây dựng, dự án đƣợc thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tƣ xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tƣ xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tƣ xây dựng” [6].
Dự án đầu tƣ xây dựng là tổng thể các hoạt động với các nguồn lực và chi phí cần thiết đƣợc bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với quy trình thời gian và địa điểm xác định nhằm đạt đƣơc mục tiêu đã định trƣớc. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tƣ xây dựng, phải xem xét ở các góc độ khác nhau. - Xét về mặt hình thức, dự án đầu tƣ xây dựng là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. - Xét về góc độ quản lý, dự án đầu tƣ xây dựng là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài.
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tƣ xây dựng là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tƣ sản xuất kinh doanh, phát triển KT-XH, làm tiền đề cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ. Dự án đầu tƣ xây dựng là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung. Nhƣ vậy, dù xét theo bất kỳ góc độ nào thì một dự án đầu tƣ xây dựng cũng đều bao gồm: mục tiêu của dự án, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực. Các kết quả đƣợc xem là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án.
Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thƣờng xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt đƣợc. Đặc điểm của dự án đầu tƣ xây dựng Các đặc điểm cơ bản của dự án đầu tƣ xây dựng: - Dự án đầu tƣ xây dựng có sản phẩm cuối cùng là công trình xây dựng (CTXD) hoàn thành đảm bảo các mục tiêu ban đầu đã đặt ra về thời gian, chi phí, chất lƣợng, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trƣờng… Sản phẩm là công trình của dự án đầu tƣ xây dựng mang tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt. - Dự án đầu tƣ xây dựng có chu kỳ riêng trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn, nghĩa là có thời điểm bắt đầu xuất hiện ý tƣởng về xây dựng công trình dự án và kết thúc khi CTXD hoàn thành đƣa vào khai thác sử dụng, khi công trình dự án hết niên hạn khai thác và chấm dứt tồn tại. - Dự án đầu tƣ xây dựng có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là ngƣời quyết định đầu tƣ, chủ đầu tƣ (chủ công trình), đơn vị thiết kế, đơn vị quản lý dự án, đơn vị giám sát, đơn vị thi công, nhà cung ứng ….
Các chủ thể này có lợi ích khác nhau, quan hệ giữa họ thƣờng mang tính đối tác. Môi trƣờng làm việc mang tính đa phƣơng và dễ xảy ra xung đột quyền lợi giữa các chủ thể. Vì vậy, khi tiến hành hoạt động đầu tƣ xây dựng cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong quản lý quá trình đầu tƣ. - Dự án đầu tƣ xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tƣ thiết bị… kể cả thời gian, ở góc độ là thời gian cho phép.
- Dự án đầu tƣ xây dựng thƣờng yêu cầu một lƣợng vốn đầu tƣ lớn, thời gian thực hiện dài, phụ thuộc vào quy mô, tính chất sản phẩm và có tính chất bất định rủi ro cao. - Dự án đầu tƣ xây dựng luôn trong môi trƣờng hoạt động phức tạp và có tính rủi ro cao chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tƣ kéo dài. Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và của tự nhiên biến động sẽ gây nên những thất thoát, lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà chủ đầu tƣ không lƣờng trƣớc đƣợc hết khi lập dự án. Chịu tác động từ nhiều yếu tố khách quan khác nhau mà con ngƣời không thể làm chủ đƣợc nhƣ nắng, mƣa, bão, hỏa hoạn, nhà nƣớc thay đổi chế độ chính sách, chiến tranh….
Vì vậy, điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, luôn luôn biến động và thƣờng bị gián đoạn. Thay đổi nhu cầu sử dụng cũng có thể gây nên thiệt hại cho hoạt động đầu tƣ. Phân loại dự án đầu tƣ xây dựng Phân loại đầu tƣ xây dựng là sắp xếp các dự án đầu tƣ theo từng nhóm dựa trên các tiêu thức nhất định. Việc phân loại các dự án là tiền đề để xác định chu trình thích hợp, giúp việc quản lý các dự án đƣợc dễ dàng và khoa học.
Theo Điều 2 5, Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tƣ xây dựng thì phân loại đầu tƣ xây dựng nhƣ sau: * Theo nguồn vốn đầu tƣ, gồm: - Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc; - Dự án sử dụng vốn Nhà nƣớc ngoài ngân sách, gồm: + Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nƣớc bảo lãnh; + Dự án sử dụng vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc; + Dự án sử dụng vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp Nhà nƣớc; + Dự án sử dụng vốn vay nƣớc ngoài (ODA); + Dự án sử dụng vốn đầu tƣ phát triển của các đơn vị hành chính sự nghiệp công; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tƣ nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn; [7] * Theo quy mô dự án: + Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tùy theo tính chất của dự án và quy mô đầu tƣ, các dự án công trình đƣợc chia ra gồm dự án quan trọng quốc gia và 3 nhóm A, B, C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tƣ công. Dự án quan trọng quốc gia Các dự án đầu tƣ xây dựng có sử dụng vố đầu tƣ công từ 10.000 tỷ đồng trở lên. Các dự án đầu tƣ xây dựng có mức độ ảnh hƣởng đến môi trƣờng hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng, bao gồm: nhà máy điện hạt nhân; sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trƣờng từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên; sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nƣớc từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên; di dân tái định cƣ từ 20.000 ngƣời trở lên ở miền núi, từ 50.000 ngƣời trở lên ở các vùng khác; dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần đƣợc Quốc hội quyết định. Các dự án này không tính đến mức vốn đầu tƣ.
Dự án nhóm A Các dự án đầu tƣ xây dựng: tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt; địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh; thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo mật quốc gia; các dự án đầu tƣ xây dựng: sản xuất chất độc hại, chất nổ; hạ tầng khu 3 công nghiệp, khu chế xuất. Các dự án này không tính đến mức vốn đầu tƣ. Các dự án đầu tƣ xây dựng: giao thông (bao gồm cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đƣờng sắt, đƣờng quốc lộ), công nghiệp điện, khai thác dầu khí; hóa chất, phân bón, xi măng; chế tạo máy, luyện kim; khai thác, chế biến khoáng sản, xây dựng khu nhà ở có vốn đầu tƣ từ 2.300 tỷ đồng trở lên. Các dự án đầu tƣ xây dựng: giao thông (trừ các dự án cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đƣờng sắt, đƣờng quốc lộ), thủy lợi, cấp thoát nƣớc và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, hóa dƣợc, sản xuất vật liệu (trừ các dự án hóa chất, phân bón, xi măng), công trình cơ khí (trừ các dự án chế tạo máy, luyện kim), bƣu chính, viễn thông có vốn đầu tƣ từ 1.500 tỷ đồng trở lên.
Các dự án đầu tƣ xây dựng: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới, công nghiệp có vốn đầu tƣ từ 1.000 tỷ đồng trở lên. Các dự án đầu tƣ xây dựng: y tế, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, xây dựng dân dụng (trừ xây dựng khu nhà ở) có vốn đầu tƣ từ 800 tỷ đồng trở lên.