CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN MẠNG DI ĐỘNG LTE 1. Giới thiệu mạng thông tin (NGN) [2] Mạng thông tin (NGN) ra đời là mạng có cơ sở hạ tầng thông tin duy nhất dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, triển khai các dịch vụ một cách đa dạng và nhanh chóng, đáp ứng sự hội tụ giữa thoại và số liệu, giữa cố định và di động. Như vậy, có thể xem mạng thông tin thế hệ mới là sự tích hợp mạng thoại PSTN, chủ yếu dựa trên kỹ thuật TDM (Time Division Multiplexing), với mạng chuyển mạch gói, dựa trên kỹ thuật IP/ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vốn có của PSTN đồng thời cũng có thể nhập một lượng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể giảm nhẹ gánh nặng của PSTN.
Tuy nhiên, NGN không chỉ đơn thuần là sự hội tụ giữa thoại và dữ liệu mà còn là sự hội tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cố định và di động. Vấn đề chủ đạo ở đây là làm sao có thể tận dụng hết lợi thế đem đến từ quá trình hội tụ này. Một vấn đề quan trọng khác là sự bùng nổ nhu cầu của người sử dụng cho một khối lượng lớn dịch vụ và ứng dụng phức tạp bao gồm cả đa phương tiện, phần lớn trong đó là không được trù liệu khi xây dựng các hệ thống mạng hiện nay. Vì vậy, việc tính toán, lập kế hoạch mạng hợp lý, chính xác là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác mạng sau này.
Đặc điểm mạng NGN [2] Mạng di động NGN có 4 đặc điểm chính: - Nền tảng là hệ thống mạng mở. - Mạng NGN là do mạng dịch vụ thúc đẩy, những dịch vụ phải thực hiện độc lập với mạng lưới. 6 - Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên một giao thức thống nhất. - Là mạng có dung lượng ngày càng tăng, có tính thích ứng cũng ngày càng tăng, có đủ dung lượng để đáp ứng nhu cầu.
Trước hết, do áp dụng cơ cấu mở mà: - Các khối chức năng của tổng đài truyền thống chia thành các phần tử mạng độc lập, các phần tử được phân theo chức năng tương ứng, và phát triển một cách độc lập. - Giao diện và giao thức giữa các bộ phận phải dựa trên các tiêu chuẩn tương ứng. Tiếp đến, mạng NGN là mạng dịch vụ thúc đẩy, với đặc điểm của: - Chia tách dịch vụ với điều khiển cuộc gọi. - Chia tách cuộc gọi với truyền tải.
Mục tiêu chính của chia tách là làm cho dịch vụ thực sự độc lập với mạng, thực hiện một cách linh hoạt và có hiệu quả việc cung cấp dịch vụ. Thuê bao có thể tự bố trí và xác định đặc trưng dịch vụ của mình, không quan tâm đến mạng truyền tải dịch vụ và loại hình đầu cuối. Điều đó làm cho việc cung cấp dịch vụ và ứng dụng có tính linh hoạt cao. Thứ ba, NGN là mạng chuyển mạch gói, giao thức thống nhất.
Mạng thông tin hiện nay, dù là mạng viễn thông, mạng máy tính hay mạng truyền hình cáp, đều không thể lấy một trong các mạng đó làm nền tảng để xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Cuối cùng là với sự phát triển của công nghệ IP, người ta mới nhận thấy rõ ràng là mạng viễn thông, mạng máy tính và mạng truyền hình cáp cuối cùng rồi cũng tích hợp trong một mạng IP thống nhất, đó là xu thế lớn mà ta thường gọi là “dung hợp ba mạng”. Giao thức IP làm cho các dịch vụ lấy IP làm cơ sở đều có thể 7 thực hiện nối thông các mạng khác nhau; đó là lần đầu tiên có được giao thức thống nhất mà ba mạng lớn đều có thể chấp nhận được.1 biểu thị kiến trúc mạng NGN.1: Kiến trúc mạng NGN [2]. Giao thức IP đang trở thành giao thức ứng dụng linh hoạt và bắt đầu được sử dụng làm cơ sở cho các mạng đa dịch vụ, mặc dù hiện tại vẫn còn ở thế bất lợi so với các chuyển mạch kênh về mặt khả năng hỗ trợ lưu lượng thoại và cung cấp chất lượng dịch vụ đảm bảo cho số liệu.
Tốc độ đổi mới nhanh chóng trong thế giới Internet, mà nó được tạo điều kiện bởi sự phát triển của các tiêu chuẩn mở sẽ sớm khắc phục những thiếu sót này. Tiếp theo chúng ta tìm hiểu một trong những mạng di động LTE. Khái niệm mạng LTE [1] Mạng di động thế hệ mới dựa trên nền tảng công nghệ LTE (Long Term Evolution) được bắt đầu nghiên cứu vào tháng 3 năm 2005. Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu này là để quyết định cấu trúc mới của hệ thống và lựa chọn sử dụng kỹ thuật đa truy nhập.
Qua nghiên cứu đó, người ta chỉ ra cấu trúc cơ bản của mạng LTE như hình 1.2: Cấu trúc mạng LTE. Mục tiêu chính của LTE: - Cấu trúc mạng chủ yếu để chuyển gói. - Tốc độ số liệu là 100 Mbps ở hướng xuống và 50 Mbps ở hướng lên. - Nếu sử dụng thêm kỹ thuật MIMO thì tốc độ số liệu có thể đạt cao hơn 9 - Sử dụng phổ tần từ 1.25 MHz đến 20 MHz.
- Kỹ thuật đa truy nhập đối với tuyến xuống và tuyến lên sử dụng kỹ thuật OFDMA và SC-FDMA tương ứng. Kỹ thuật đa truy nhập của mạng LTE [1], [8] Kỹ thuật đa truy nhập của LTE chủ yếu dựa trên cơ sở ghép theo tần số (FDM) và sử dụng hai loại khác nhau: Đa truy nhập cho tần số trực giao (OFDMA) cho tuyến xuống và đa truy nhập theo tần số đơn sóng (SC-FDMA) cho tuyến lên. OFDMA là một kỹ thuật truyền dẫn rất hiệu quả được sử dụng rộng rãi trong nhiều hệ thống truyền dẫn số như: Truyền hình số, WiMax, mạng WLAN. Sở dĩ nó được sử dụng rộng rãi vì khả năng chống được fading lựa chọn theo tần số trong kênh.
Ngoài ra, OFDMA có khả năng sử dụng băng tần rất linh hoạt ở tuyến xuống. Ở tuyến lên của LTE sử dụng kỹ thuật SC-FDMH vì nó có tỉ số công suất đỉnh trên công suất trung bình thấp. Đó là một đặc điểm rất hấp dẫn vì tuyến lên cần sử dụng bộ khuếch đại công suất một cách hiệu quả để tăng tuổi thọ làm việc cho pin của máy di động. Kỹ thuật OFDM Nguyên lý cơ bản của các hệ thống đa sóng mang là chia băng tần tổng thành nhiều băng tần con có độ rộng băng tần nhỏ hơn.
Do độ rộng băng tần con hẹp cho nên trong đó chỉ tồn tại fading phẳng, vậy chỉ cần sử dụng thiết bị đơn giản để bù biến đổi độ lợi của kênh, không cần dùng đến các giải pháp cân bằng phức tạp. Các sóng mang con trong hệ thống OFDM trực giao với nhau.3 biểu thị nguyên lý OFDM. Biểu diễn kênh con OFDM trong miền tần số là một hàm Sinc1, việc lấy mẫu nếu được thực hiện với những khoảng cách chính xác chỉ ở những sóng mang phụ của kênh con và bằng 0 tại những tần số của sóng mang phụ khác. Điều này có nghĩa là các kênh con là trực giao với nhau.3: Tín hiệu OFDM trong miền tần số và miền thời gian.
Kỹ thuật OFDMA OFDMA là phương pháp đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao. Phương pháp truy nhập sử dụng nguyên lý OFDM để điều hòa phối hợp sự phân bố các tài nguyên vô tuyến cho người dùng để thiết lập thông tin. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng đa truy nhập theo miền thời gian (TDMA). Tại đó, người dùng nhận được các tài nguyên động tại các thời điểm lập lịch khác nhau.
Bộ lập lịch sử dụng các điều kiện kênh của người dùng khác nhau để phân phối các tài nguyên vô tuyến (các sóng mang phụ) cho những nơi phù hợp nhất như tại đó điều kiện kênh tức thời có CI - Max.4 mô tả một thủ tục lập lịch phụ thuộc kênh giữa người dùng. Ở đây, các sóng mang con của hệ thống được phân phối giữa hai người dùng trên cơ sở người có kênh tốt nhất. Một hệ thống lập lịch phụ thuộc kênh như vậy thường linh hoạt, đạt được dung lượng hệ thống tương đối tốt hơn và hiệu quả sử dụng phổ cao hơn so với hệ thống OFDM một người dùng.4: Lập lịch phụ thuộc kênh giữa hai người dùng 1. Kỹ thuật SC-FDMA Các tín hiệu SC-FDMA có tín hiệu PAPR thấp hơn OFDMA.
Đây là một trong những lý do chính để chọn SC-FDMA cho hướng lên của LTE. PAPR giúp mang lại hiệu quả cao trong việc thiết kế các bộ khuếch đại công suất UE, và việc xử lý tín hiệu của SC-FDMA vẫn có một số điểm tương đồng với OFDMA, do đó, tham số hướng DL và UL có thể cân đối với nhau. Với hạn chế của OFDMA về tỉ lệ PAR cao như đã trình bày ở trên, phải cần có phương pháp sử dụng điều chế đơn sóng mang nhưng vẫn giữ lại được các ưu 12 điểm của OFDMA. Và SC-FDMA được lựa chọn là kỹ thuật đa truy nhập đường lên cho LTE bởi SC-FDMA thực chất là một trường hợp đặc biệt của OFDMA, trong đó SC- FDMA giữ lại hầu hết nguyên lý của OFDMA và thỏa mãn điều kiện điều chế đơn sóng mang.
SC-FMDA không điều chế một ký hiệu (symbol) lên một sóng mang con (sub-carrier) như OFDMA mà sẽ tách các bit của một symbol và ghép lên một sóng mang con để từ đó tạo thành một sóng mang (carrier) duy nhất.5: So sánh 2 kỹ thuật OFDM và SC-FDMA Như ví dụ của hình trên, đối với OFDMA, 4 symbol được điều chế trên 4 sub- carrier, với độ rộng mỗi sub-carrier 15kHz trong khi đối với SC-FDMA, 4 symbol được truyền chỉ trên một carrier có độ rộng 60 kHz. Để thực hiện được việc này, thiết bị đầu cuối uplink phải bổ sung thêm thành phần DFT precoding với mục đích tách bit đơn lẻ của một symbol và gán lần lượt lên các sóng mang con trước khi tổng hợp dữ liệu truyền đi với mục đích đạt được việc truyền trên một carrier tại đầu ra của tín hiệu cuối cùng. Với các đặc tính như trên, SC-FDMA sẽ có ưu điểm và nhược điểm như sau: - Ưu điểm: Khắc phục được nhược điểm tỉ lệ công suất peak/average (PAR) cao của OFDMA mà giữ nguyên các ưu điểm của OFDMA. 13 - Nhược điểm: Tăng độ phức tạp về mặt thiết bị cho các thiết bị đầu cuối và eNodeB.
Cấu trúc mạng LTE [1], [3] Người ta thiết kế hệ thống LTE để cung cấp các dịch vụ chuyển mạng gói thực hiện kết nối IP giữa mạng số liệu gói (PDN) và thiết bị người dùng (UE) mà không bị gián đoạn dịch vụ trong lúc di chuyển.