MỞ ĐẦU 30 năm đổi mới ở Việt Nam, vai trò của hoạt động ngân hàng là vô cùng quan trọng. Sự phát triển không ngừng cả về mạng lưới và nội dung của hoạt động ngân hàng đã góp phần to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Là một trong những ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) tỉnh Thái Nguyên tuân thủ sự điều hành của Chính phủ, của ngân hàng Nhà nước, bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) của tỉnh; giữ vững vai trò chủ đạo trong đầu tư tín dụng cho khu vực “tam nông”, không ngừng đẩy mạnh công tác tiếp thị, thu hút nguồn tiền gửi của khách hàng, nỗ lực đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất của doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân. Đồng thời, Agribank tỉnh Thái Nguyên tập trung điều hành tăng trưởng tín dụng chặt chẽ, gắn tăng trưởng tín dụng với kiểm soát, nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần cùng với ngành ngân hàng thực hiện tốt các giải pháp phát triển KT- XH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và cả nước.
Mặc dù ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ban hành các chính sách và cơ chế tín dụng áp dụng cho từng khu vực đặc thù đã và đang được thực hiện. Tuy nhiên, cơ chế tín dụng này vẫn nảy sinh nhiều bất cập khi áp dụng vào hoạt động thực tế ở tỉnh Thái Nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Thái Nguyên. Do vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (NN&PTNT) chi nhánh Thái Nguyên, thiết thực góp phần thúc đẩy phát triển KT- XH của địa phương, điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá thực trạng và hoàn thiện giải pháp tín dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên và phát triển KT - XH của tỉnh Thái Nguyên và hệ thống ngân hàng. Xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, qua thực tế hoạt động của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện giải pháp tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn cao học.
Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu phân tích hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái. Mục tiêu cụ thể -. - Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên. - nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên.
Đối tượng nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tín dụng của chi nhánh ngân hàng NN& 3 nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên. - ; - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên; - Hoàn thiện giải phá &PTN 2020; - Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, áp dụng trong điều kiện thực tế hiện nay, tạo điều kiện để chi nhánh ngân hàng NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên có cái nhìn tổng quan về thị trường tín dụng tại Thá , chính sách tín dụng ngân hàng; cho các nghiên cứu có liên quan. , luận văn kết cấu gồm 4 chương: Chƣơng 1 Chƣơng 2 ngân hàng Chƣơng 3 p và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 4: Hoàn thiện giải pháp tín dụng tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 4 Chƣơng 1 1.
Tín dụng và sự phát triển của tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Theo Mác, “tín dụng dưới hình thái biểu hiện của nó là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho người này giao cho người khác ,một số tư bản nào đó dưới hình thái hàng hóa hoặc đánh giá thành một số tiền nhất định.Số tiền này bao giờ cũng phải được trả lại trong một thời gian đã được ấn định.”[1] Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam thì: “ tín dụng là một phạm trù kinh tế, thể hiện mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.Đến kỳ hạn trả nợ người đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hóa đã vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi”.
Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: (i) Tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị; (ii) Tính thời hạn; và (iii) Tính hoàn trả và có lãi.[1] Tín dụng có nhiều loại như: tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng Ngân hàng. Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế; Trong mối quan hệ này, ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) và vai trò là người cho vay (chủ nợ). Đây là mối quan hệ gián tiếp mà người tiết kiệm, tổ chức kinh tế, định chế tài chính thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. 5 Phân biệt tín dụng và cho vay: Bất kỳ sự chuyển giao sử dụng tạm thời (có hoàn trả) về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng; mối quan hệ tín dụng này lại được thể hiện dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.[5] Khái niệm hoạt động cho vay: Hoạt động cho vay là việc ngân hàng thỏa thuận với khách hàng để khách hàng sử dụng một tài sản bằng tiền với nguyên tắc có hoàn trả.[5] Như vậy, nội dung tín dụng rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì cho vay (tín dụng bằng tiền) là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM.
Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế cho nhau. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế 1. Đa dạng hóa cho vay và huy động vốn, thúc đẩy phát triển KT – XH[8] Tại một thời điểm nhất định trong xã hội luôn xuất hiện những nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, đồng thời xuất hiện những tổ chức, cá nhân cần vốn để sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của ngân hàng là tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để cho các đơn vị, cá nhân tạm thời đang thiếu vốn vay.
Trong cơ chế bao cấp, việc nâng cao hiệu quả huy động vốn và cho vay không phải là mục tiêu quan trọng nhất đối với ngân hàng nhưng trong cơ chế thị trường, hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng cho nên các ngân hàng phải tìm cách tăng lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro bằng cách tập trung đầu tư vào các dự án trọng điểm, các hộ kinh doanh có hiệu quả.Vì vậy các ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài chính, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư đã thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất trên cơ sở đó góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn. Ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Đối với Nhà nước thì ngân hàng là một công cụ đắc lực, hữu hiệu trong quản lý kinh tế. Đối với các thành phần kinh tế thì tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ cho sự thiếu hụt tạm thời về vốn sản xuất.
Đặc biệt trong cơ chế quản lý mới hiện nay, Nhà nước đã giao quyền tự chủ, các doanh nghiệp và hộ sản xuất cá thể phải tự hạch toán kết quả kinh doanh. Do đó , tín dụng ngân hàng có vai trò rất lớn đó là: 6 Đáp ứng yêu cầu về vốn cho các thành phần kinh tế phát triển kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định, hiện tượng thừa, thiếu vốn thường xảy ra đối với các tổ chức kinh tế nói chung và đối với hộ sản xuất nói riêng. Hoạt động đầu tư tín dụng ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng lao động không có việc làm do thiếu đối tượng và công cụ lao động.
Trong điều kiện nước ta hiện nay cơ cấu kinh tế còn tình trạng mất cân đối. Do đó tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, nguyên vật liệu. Như vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn phát triển kinh tế -xã hội ở nước ta. Như vậy, chính nhờ vốn tín dụng ngân hàng đã tạo cho các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, tạo đà phát triển kinh tế của toàn xã hội.
Các ngân hàng thương mại, với tư cách là một trung gian tài chính hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán có khả năng kiểm soát bằng đồng tiền đối với hoạt động của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán. Một trong những nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng là vốn vay phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi. Nhờ đó mà tín dụng ngân hàng thúc đẩy được quá trình sử dụng vốn có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, hộ sản xuất kinh doanh phải thực hiện trả nợ đúng cam kết theo thoả thuận đã ghi trong hợp đồng tín dụng.
Muốn dự án, phương án thực hiện có lãi hộ sản xuất kinh doanh phải hạch toán kinh tế.