Chương 1 C ơ CẤU KINH TÊ VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CHUYÊN d ị c h c ơ c â u k i n h t ê THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. Cơ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH c ơ CÂU KINH TẾ 1. Cơ cấu kinh tê * Khái niệm: Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia qua mỗi thời kỳ. Sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, trình độ phát triển của sự phân công lao động trong nước và quốc tế; quy luật lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, lợi thế của nước phát triển muộn về công nghiệp; xu hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống, lý thuyết về tái sản xuất và cân đối liên ngành.
đã in dấu với mức độ đậm nhạt và phạm vi rộng hẹp khác nhau, có liên quan đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Thuật ngữ “cơ cấu kinh tế>’ xét về quan niệm có thể còn có sự khác nhau. Điều đó là bình thường, tuỳ người ta xem xét phạm vi rộng hẹp của nội dung khái niệm đó. Qua đó, chúng ta có một số khái niệm về cơ cấu kinh tế [41, [7]: - Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân một nước là tổng thể mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
- Cơ cấu kinh tế là một tổng th ể bao gồm nhiều yếu tố. giữa chúng có 4 những mối liên hệ và tương tác qua lại cả về mặt chất lượng lẫn mặt số lượng, trong một khoảng thời gian và trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tổng thể kinh tế đố cũng luôn vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. - Cơ cấu kinh tế của một nước là tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế; gắn với vị trí, trình độ công nghệ, quy mô, tỉ trọng tương ứng với từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận; gắn liền điều kiện kinh tế x ã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra.
Từ các khái niệm về cơ cấu kinh tế nêu trên, luận văn rút ra: * Đặc điểm cơ cấu kinh tê là: - Tính khách quan của cơ cấu kinh tế. - Tính lịch sử cụ thể về thời gian, không gian, điều kiện kinh tế - xã hội. - Tính có mục tiêu của cơ cấu kinh tế. Mục tiêu này, được xem xét cả về hai mặt kinh tế và xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.
- Quan hệ giữa hai mặt số lượng (quy mô, tỉ trọng, tốc độ) và chất lượng (vị trí, sự tương tác, trình độ công nghệ.) của cơ cấu kinh tế. * Nội dung cơ cấu kinh tế: T hứ nhất, trên gốc độ nền kinh tế quốc dân nó là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành: - Cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân và nội bộ của từng ngành. Cơ cấu ngành kinh tế là một kiểu cơ cấu trong toàn bộ hệ thống các cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, xác định theo mối quan hệ giữa các ngành và nội bộ ngành phân biệt với các loại cơ cấu kinh tế khác. - Cơ cấu lãnh thổ là biểu hiện vật chất cụ thể của phân công lao động theo lãnh thổ, là không gian thích hợp các giao điểm của các quá trình và các sự kiện diễn ra trong nó.
Vì thế trình độ hình thành, phát triển và hoàn thiện của cơ cấu lãnh thổ hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân 5 công lao động theo lãnh thổ. Đến lượt mình, trình độ phát triển của phân công lao động theo lãnh thổ lại phụ thuộc vào trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà động lực chính của nó là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ. - Cơ cấu thành phần kinh tế là tổng thể các hình thức kinh tế của các khu vục kinh tế tồn tại trong các mối quan hệ tương tác với nhau, vận động và phát triển phù hợp với các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) tương ứng với nó. - Cơ cấu kỹ thuật và công nghệ là tổng thể các loại trình độ kỹ thuật và công nghệ tồn tại được hình thành trong mối quan hệ tương tác giữa công cụ thủ công, nửa cơ khí, cơ khí tự động hoá.
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tương ứng với các nguồn động lực trong đó quan trọng nhất là vốn và sức lao động. - Cơ cấu tái sản xuất xã hội là một cấu trúc được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa 4 khâu của quá trình sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng. Cơ cấu là đặc trưng cơ bản của hệ thống. Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, tinh tế và năng động; do vậy cơ cấu kinh tế của nó cũng mang tính đa cơ cấu.
Với đặc tính đa cơ cấu, việc trình bày một số cơ cấu nói trên, xét về nội dung không phải là tất cả, mà chỉ là những cơ cấu chủ yếu trong hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân. Thứ hai, tối ưu hoá việc xây dựng cơ cấu kinh tế là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Có thể có nhiều yêu cầu khi xem xét và đánh giá thế nào là một cơ cấu kinh tế tối ưu. Một cơ cấu kinh tế được xác định là tối ưu khi nó thoả mãn những yêu cầu chủ yếu sau: Một là, phản ánh được và đúng các quy luật khách quan (bao gồm các quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội) nhất là các quy luật kinh tế.
6 Trong cơ cấu kinh tế, các quy luật kinh tế sau cần được coi trọng: - Quy luật quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật này có liên quan đến cơ cấu kỹ thuật. - Công nghệ và cơ cấu thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế của một nước. - Các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường như: quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu hàng hoá và dịch vụ, quy luật lợi nhuận. - Các quy luật kinh tế của tái sản xuất như: Quy luật tăng năng suất lao động; quy luật tích luỹ, quy luật phân phối tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu nhập quốc dân.
Các quy lụât này liên quan đến việc hình thành cơ cấu ngành kinh tế, liên quan đến quy mô và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, liên quan đến cơ cấu của các khâu sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất. Toàn bộ yêu cầu trên phản ánh thực và đúng các quy luật khách quan - cơ sở đảm bảo cho cơ cấu kinh tế được hình thành mang tính khoa học. Hai là, đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng thể hiện qua các phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả. Tiềm năng nêu ở đây bao gồm tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ.
Những tiềm năng này đã được điều tra và dự báo có khả năng huy động vào sản xuất kinh doanh. Có thể lượng hoá yêu cầu thứ hai qua các chỉ tiêu: Hệ số khai thác tiềm năng và đường giới hạn sản xuất kinh doanh tối ưu. Ba là, phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường đầy năng động trên thế giới, và sự phát triển nhanh chóng ngành dịch vụ hiện nay trong quá trình hình thành cơ cấu kinh tế của từng quốc gia. sư dụng ngày càng nhiều lợi thế tuyệt dõi và lợi thế so sánh 7 giữa quốc gia với các nước trong cộng đồng quốc tế.
Yêu cầu này gắn liền với việc hình thành cơ cấu kinh tế mở, gắn liền với xây dựng chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả; gắn liền với sự phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế; gắn liền với lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A dam Smith (1723 - 1790), lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo (1772 - 1823). Trong đó, điều cốt lõi của lý thuyết lợi thế so sánh là ở sự khéo léo lựa chọn kiểu kết hợp giữa ưu thế của mình với ưu thế của nước khác, người khác, nhằm đạt hiệu quả tối đa. Các Mác (1818 - 1883) khi nghiên cứu về hạn ngạch tiền công dân tộc và tiền công quốc tế cũng đưa đến kết luận tương tự rằng: Hiệu ích của việc xuất nhập khẩu, xét về thực chất là ở việc lợi dụng có hiệu quả sự chênh lệch giữa năng xuất lao động quốc tế và năng xuất lao động dân tộc mà có. Năm là, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo kết quả cuối cùng của một cơ cấu kinh tế tối ưu của một nước.
Các yếu tố nói trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau và đều có tác dụng chi phối sự hình thành cơ cấu kinh tế ở trong từng thời kỳ. Chính thông qua các yêu cầu nói trên, cho phép con người nhận thức đúng đắn hơn tiêu chuẩn đánh giá một nền kinh tế mạnh, năng động, có khả năng tham gia vào sự phân công và hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả. Nếu trước đây những chỉ tiêu về quy mô sản lượng, lãnh thổ, dân số, tài nguyên. được coi là tiêu chuẩn hàng đầu của một nền kinh tế mạnh, thì đến nay đã giảm bớt ý nghĩa.
Vì nó gắn với mô hình phát triển theo chiều rộng, mô hình phát triển tăng đều về lượng cả “4 cực” của hệ thống kỹ thuật là năng lượng, vật liệu, sự sống và thời gian. Còn nguyên tắc của hệ thống máy móc về cơ bản là không thay đổi.