Chương 1: Tín dụng ngân hàng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế. Chương 2: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá kinh tế tỉnh Bình Phước. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá kinh tế tỉnh Bình Phước. Chương ] TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NỀN KINH TẾ 1.
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP 1. Tổng quan về vốn tiền tệ trong nền kinh tế 1. Quan niệm cơ bản về vốn tiền tệ phát triển kinh tế, xã hội Vốn là những gì có khả năng nào đó mà người ta có thể sử dụng vào mục đích vì lợi ích trong hoạt động của mình. Từ đó có thể thấy rằng, trong nền kinh tế thị trường các yếu tố của sản xuất được coi là vốn.
Cho thấy vốn phát triển kinh tế, xã hội bao gồm những khả năng về sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động, các tài sẵn khác mà con người sử dụng trong hoạt động của mình tạo nên những lợi ích có tác dụng đối với việc phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên trong luận án chúng tôi chỉ nghiên cứu về vốn tiền tệ. Vốn tiền tệ (từ đây về sau trong luận án gọi tắt là vốn) có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế. Không có vốn không thể phát triển kinh tế được.
Để phát triển kinh tế, xã hội nhất là đối với qúa trình CNH - HĐH nền kinh tế quốc dân cần có khối lượng vốn lớn. Vốn góp phần phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, phân công lại một cách hợp lý nguồn lao động, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Vốn đẩy mạnh qúa trình phát triển cơ sở hạ tầng nền kinh tế. Vốn thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới hiện đại hóa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.
Vốn là cơ sở góp phần nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực cho tiến trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Vốn góp phần đảm bảo thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội đối với sự nghiệp CNH - HĐH và nhất là tạo điều kiện nhằm giải quyết tốt các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong xây dựng nền tế thị trường định hướng xã hội chú nghĩa ở Việt Nam. Những đề cập trên cho thấy vốn là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế, xã hội trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu lợi ích của con người. Trong qúa trình sử dụng vốn, nhất là trong nền kinh tế thị trường dưới sự tác động của các quy luật thị trường vốn luôn biến động theo không gian, thời gian và chịu sự tác động của con người.
Điều đó cho thấy việc tạo lập, phân bổ, sử dụng, kiểm soát vốn là hết sức quan trọng và càng quan trọng hơn khi phải đạt đến mục tiêu nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn. Một khi vốn sử dụng kém hiệu qủa sẽ gây nên những biến động xấu có tính chất dây chuyền trong nền kinh tế, xã hội. Có thể nhận biết những tác động xấu mang tính chất dây chuyền như: Sử dụng vốn kém hiệu qủa (bất kể đó là lí do gì) dẫn đến giảm thiểu, thậm chí không có lợi nhuận, không thu hồi được vốn hoặc không đủ bù đắp vốn bỏ ra dẫn đến thu nhập thấp; chi tiêu thấp không kích thích được sản xuất kinh đoanh. Đó là chưa kể đến việc không trả được nợ vay các tổ chức tín dụng, đấy các tổ chức này vào khó khăn gây nên những biến động lớn ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh; chưa kể tác động xấu đến tư tưởng, tinh thần của người lao động.
Như vậy vốn được xác định là một trong những điều kiện tiền đề rất cần thiết của qúa trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là cho sự nghiệp CNH - HĐH nền kinh tế quốc dân. Khái quát sự hình thành vốn tiền tỆ Lịch sử hình thành tiền tệ được C. Mác tổng kết một cách hoàn thiện. Theo ông, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung 6 trong nền kinh tế thị trường.
Mác cho rằng tiền tệ là hình thái cao nhất và là hình thái cuối cùng của sản xuất hàng hóa. Mác mô tả qúa trình hình thành của tiền tệ đi từ trao đổi trực tiếp hàng hóa lấy hàng hóa, là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị; rồi đến hình thái đầy đủ hay mở rộng. Khi sản xuất hàng hóa phát triển và trao đổi hàng hóa trở nên thường xuyên rộng rãi hơn, trong thế giới hàng hóa có một loại hàng hóa tách ra làm vật ngang giá chung, đó là hình thái chung của giá trị. Vật ngang giá chung có thể trao đổi trực tiếp với một hàng hóa bất kỳ.
Vật ngang giá trở thành môi giới, thành phương tiện để trao đổi. Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa, thị trường được mở rộng, vai trò vật ngang giá chung đần đần được cố định ở bạc và vàng thì hình thái tiền tệ của giá trị ra đời. Khi tiền tệ xuất hiện, thì thế giới hàng hóa được phân thành 2 cực, một phía là vàng với tư cách là vật ngang giá chung, còn một phía là các hàng hóa khác. Vậy bản chất của tiền tệ là là vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa, là sự thể hiện chung của giá trị và thể hiện lao động xã hội; đồng thời biểu hiện quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa với nhau.
[23] Từ đó luận án cho rằng cần khẳng định sự phát triển cửa sức sản xuất xã hội là nguyên nhân sâu xa, còn trao đổi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của tiền tệ. Điều này khắc phục quan niệm phiến diện cho rằng nhu cầu trao đổi, mua bán là nguyên nhân ra đời của tiền tệ. Sự xuất hiện của tiền tệ từ là những vỏ sò, vỏ ốc, đất nung, kim loại, tiền giấy, tiền bút tệ và cho đến tiền điện tử là qúa trình hoàn thiện đần chính bản thân nó do sự đòi hỏi thực tiễn của kinh tế thị trường. Tiền tệ ra đời với những chức năng vốn có của nó đã góp phần thúc day mạnh mẽ qúa trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Tuy nhiên cũng cân lưu ý rằng, tiền chỉ là tiền, là phương tiện môi giới trong trao đổi hàng hóa. Tiền chỉ trở thành vốn sản xuất khi đưa vào qúa trình sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận mang lại lợi nhuận cao hơn. Dựa trên cơ sở lý luận từ phát hiện của C. Mác về điều kiện để tiền trở thành tư bẩn chúng tôi phát triển thêm về mặt lý luận trong khía cạnh để tiền trổ thành vốn sản xuất nhất thiết phải hội đủ những điều kiện sau đây: Một là: Tiền phải được tập trung đạt đến một số lượng đáp ứng mua sắm được các phương tiện sản xuất; thuê được sức lao động.
Hai là: Tiền phải vận động theo công thức Tiền tệ - Hàng hóa (Tư liệu sản xuất và sức lao động) — đi vào sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa mới - tiêu thụ hàng hóa để quay lại hình thái tiền ban đầu với số lượng lớn hơn. Như vậy vấn đề đặt ra là, để có thể tạo lập được các yếu tố đầu vào của sản xuất, tổ chức sản xuất hàng hóa, nhất là sản xuất hàng hóa lớn có đủ năng lực cạnh tranh trên thương trường cần phải có vốn được tập trung đến một mức độ nhất định tương ứng với quy mô, trình độ của sản xuất. Từ đó cho thấy rằng muốn tiến hành CNH - HĐH nâng cao năng lực sản xuất phải có nhiều vốn đến mức cần thiết. Để có vốn vừa phải tăng cường khả năng tích lũy vừa phải đa đạng hóa hình thức huy động vốn để cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Yêu cầu quy mô vốn đầu tư lần sau phải lớn hơn lần trước; đó chính là yêu cầu để thực hiện tái sản xuất mở rộng không ngừng. Vai rò của vốn trong phát triển kinh tế, xã hội Muốn phát triển kinh tế xã hội ngoài những yếu tố khác như con người, tài nguyên thiên nhiên, môi trường xã hội nhất thiết phải có vốn. Vốn có một vai trồ hết sức quan trọng đối với cả quản lý vi mô và vĩ mô trong kinh tế, xã hội. Một là: Vai trò đối với quản lý vĩ mô.
Các nhà kinh tế học chỉ rõ, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt được trao đổi mua bán trên thị trường cả trong và ngoài nước; điều này càng được khẳng định rõ hơn trong qúa trình toàn cầu hóa về kinh tế. Qúa trình luân chuyển của vốn trong nền kinh tế thị trường dẫn đến tích tụ, tập trung vốn tạo khả năng có những nguồn vốn lớn đầu tư tập trung cho những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đã được lựa chọn. Để đảm bảo cho qúa trình tái sản xuất xã hội nhà nước phải thực hiện việc phân bổ vốn sao cho phù hợp với mục tiêu đầu tư phát triển kinh tế, xã hội đề ra,. với lẽ đó việc nhà nước sử dụng công cụ giá cả của vốn (lãi suất) tác động đến thị trường tài chính, dẫn đến tác động vào toàn bộ nền kinh tế đất nước.
Bằng công cụ giá cả nhà nước còn có thể tác động đến phân phối và phân phối lại, tác động điều tiết sắn xuất và lưu thông hàng hóa; tác động vào các tầng lớp dân cư,. cho thấy vốn có vai trò quan trọng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, xã hội. Một khi vốn tiền tệ được sử dụng chung trong khu vực, như tiền tệ chung Châu Âu thì phạm vi tác động sẽ là cả một khu vực chung các nước sử dụng chung loại tiền tệ. Hai là: Vai trò đối với quản lý vi mô.
Các doanh nghiệp, hộ gia đình muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì phải có vốn. Các yếu tố của sản xuất đều được quy về giá trị thể hiện bằng tiền tệ. Để tính toán đến hiệu qủa sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp, các hộ gia đình phẩi hạch toán kinh tế sao cho đạt mục tiêu tối thiểu chỉ phí để tối đa hóa lợi nhuận.