Chương 1: Cơ sở lý luận, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với phát triển nông nghiệp nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH. Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng đối với phát triển nông nghiệp nông thôn của hệ thống các NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Chương 3: Các giải pháp về tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. LƢỢT KHẢO TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Thời gian qua, việc nghiên cứu tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được nhiều tác giả quan tâm.
Do những hạn chế về thông tin và điều kiện nghiên cứu, dưới đây tác giả xin nêu một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn. - Tác giả Nguyễn Quốc Nghi (2010), Trường Đại học Cần Thơ, trong công trình nghiên cứu “Giải pháp tín dụng đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam”, đã cung cấp cơ sở lý luận về vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng nhưng phân tích thực trạng hoạt động cung cấp tín dụng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ đó nêu lên một số kiến nghị nhằm tăng cường các hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, công trình trên với nội dung nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc. Do đó, việc vận dụng vào thực tiễn ở tỉnh Vĩnh Long hết sức khó khăn.
- Tác giả Nguyễn Trung Trinh (năm 2009) trong luận văn Thạc sĩ về “Tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Vĩnh Long”. Luận văn nghiên cứu lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, vai trò tín dụng Ngân hàng phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo Sở ban ngành trong tỉnh từ đó, phân tích thực trạng tín dụng ngân hàng đầu tư ngành nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2005- 2008, đồng thời nêu lên những tồn tại, hạn chế trong quá trình đầu tư vốn tín dụng. Từ đó đưa ra các giải pháp cơ bản góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Vĩnh Long.
Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập các chính sách tín dụng tác động sự tăng trưởng cho vay trong nông nghiệp, nông thôn, các nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn, cũng như do sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long ở từng thời điểm nhất định, có nhiều vấn đề mới đặt ra mà luận văn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển như: cơ sở lý luận, cơ cấu kinh tế, công tác quy hoạch… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình trên, thì luận văn này có những điểm mới như sau: - Thứ nhất, Trình bày và phân tích một số lý luận chung về nông nghiệp, nông thôn, về tín dụng nói chung và tín dụng Ngân hàng nói riêng. - Thứ hai, Phân tích vai trò và hiệu quả của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển nông nghiệp nông thôn - Thứ ba, Giới thiệu những đặc thù về kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Long và thực trạng phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời gian qua. - Thứ tư, Phân tích các chính sách tín dụng tác động đến tăng trưởng dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh. Cũng như đánh giá thực trạng đầu tư nói chung và tín dụng của các NHTM đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh giai đoạn 2007 - 2011.
- Thứ năm, Trên cơ sở đánh giá những mặt được, những tồn tại hạn chế, những vướng mắc trong quá trình đầu tư tín dụng của các NHTM trong tỉnh. Luận văn đã nêu lên những nguyên nhân của những mặt tồn tại, hạn chế, từ đó đã đề xuất những giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư tín dụng của Ngân hàng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy kinh tế tỉnh nhà phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 1.1 VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm của nông nghiệp, nông thôn 1.1 Nông nghiệp và những đặc trưng của nó + Khái niệm: nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế quốc dân đó, nông nghiệp có mối quan hệ biện chứng với các ngành khác trước hết là công nghiệp, thương mại và dịch vụ trong một chỉnh thể có tính hệ thống.
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm: Trồng trọt và chăn nuôi, theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp. + Đặc trƣng nông nghiệp: - Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên đại bàn rộng lớn, phức tạp và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu có đất đai và lao động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Song ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết–khí hậu rất khác nhau.
Do các điều kiện đó đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ rệt. - Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Đất đai là điều kiện cần cho tất cả các ngành sản xuất nhưng nội dung kinh tế lại rất khác nhau. Đối với công nghiệp, giao thông… đất đai là cơ sở nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, đường giao thông… để con người điều khiển máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động.
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được nếu thiếu đất đai thì mội hoạt động nông nghiệp không thể thực hiện được. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh vật nhất định (sinh trưởng, phát triển, phát dục và diệt vong). Cây trồng vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau.
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt thời gian lao động tách rời với thời gian sản xuất của các loại cây trồng nông nghiệp, mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau.2 Kinh tế nông thôn và những đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn Nông thôn là vùng khác với vùng đô thị ở chỗ là trên đó sống và làm việc một cộng đồng trong đó chủ yếu là nông dân, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp. Với khái niệm trên vùng nông thôn có đặc trưng cơ bản sau: - Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là chủ yếu, các hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn. - Nông thôn so với đô thị có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hoá thấp hơn.
Nông thôn chịu sức hút của đô thị về nhiều mặt, do đó dân nông thôn hay đổ xô về đô thị. - Nông thôn là vùng có thu nhập và đời sống, trình độ văn hoá, khoa học công nghệ thấp hơn đô thị. Trong một chừng mực nào đó, trình độ dân chủ tự do và công bằng xã hội cũng thấp hơn đô thị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Nông thôn mang tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quy mô và trình độ phát triển, đa dạng về các hình thức tổ chức quản lý.
Kinh tế nông thôn là các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra trên địa bàn (khu vực) nông thôn. Bao gồm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn đó. Cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các quan hệ kinh tế trong nông thôn, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo một tỷ lệ nhất định về mặt lượng và chất. Có đặc trưng: Một là: Mang tính khách quan và được hình thành do sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Hai là: Không ngừng vận động biến đổi, phát triển theo hướng ngày càng hợp lý, hoàn thiện và có hiệu quả. Ba là: Bao gồm tổng thể nhiều ngành nghề khác nhau cùng tồn tại và phát triển. Trong đó ngành nghề truyền thống phát triển mạnh. Bốn là: Các thành phần kinh tế phát triển nhỏ lẻ không đồng bộ chủ yếu còn mang tính tự cung tự cấp.
Năm là: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một xu hướng tất yếu và là một điều kiện nhằm thúc đẩy mạnh quá trình hội nhập.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố đa dạng và phức tạp. Có thể phân chia thành các nhóm cơ bản sau: - Nhân tố vốn: cũng như mọi ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất nông nghiệp muốn hoạt động và phát triển được thì phải có vốn. Vốn tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình sản xuất.
Sản xuất muốn tiến triển đều và thuận lợi thì sự đáp ứng vốn đủ và kịp thời là có tính quyết định. Hiện nay nền sản xuất nông nghiệp nước ta còn ở trình độ thấp, lạc hậu, lao động thủ công còn phổ biến, cơ sở hạ tầng nông thôn còn thấp kém. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 vì thế, vốn chính là nhân tố quan trọng hàng đầu rất cần thiết. Tín dụng ngân hàng đã đang và sẽ là nguồn cung ứng vốn cho yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn.