chương I theo công và số 681/CP - KTN ngày 20/ 6/ 1998.Chính phủ đã tạm thời quy định thống nhất việc xác định DNV&N ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ đưới 5 tỷ đồng và có số lao động bình quân đưới 200 người. Trong quá trình thực hiện, các bộ ngành, địa phương có thể căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thé ma áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động, hoặc một trong hai tiêu chí này. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 1999, tình hình DNVâ&N theo tiêu chí trên là (xem bang 3) Bang 3: TINH HINH DNV&N VIET NAM Doanh nghiệp(số lượng) Tý lệ Loại tiêu chí DN quốc Tổng số | (50vớisó DNNN doanh nghiệp doanh Si hiện có) Von duoi 5 ty HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM 12 đồng 3670 40100 43770 91% Lao động dưới 200 người 5420 41590 46830 97% Nguồn: Báo cáo của bộ Kê hoạch và Đầu tư - Xét về hình thức sở hữu: Do đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước nên các DNV&N cùng đa hình thức sở hữu đó là sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,.tập chung chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nếu xết theo tiêu chí về vốn thì DNNN chiếm 64,42% và theo tiêu chí về lao động thì chiếm 91,7% tổng số doanh nghiệp hiện có ( 5718 DN ).
Tỷ lệ tương ứng với DNV&N ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân, các loại công ty cô phần, hợp tác xã) là 95,4% và 98% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện có (42.415 DN) - Về lĩnh vực hoạt động: Hầu hết các DNV&N hoạt động trong ngành công nghiệp (công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến thực phẩm ) thương mại dịch vụ đòi hỏi ít vốn, quay vòng vốn nhanh. Đến năm 1998, số lượng DNV&N trong công nghiệp đạt 5620 DN chiếm 28% trong tổng số các DNV&N ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp này thường tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam chiếm đến §1% tổng số các DNV&N, các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm có 12,6% tổng số các DNV&N đang hoạt động ở các vùng ven đô thị và nông thôn. - Von tài chính: Trong quá trình phát triển DNV&N đang trong giai đoạn khởi đầu, tích luỹ vốn còn hạn chế và gặp khó khăn rất lớn.
Sự thiếu vốn diễn ra trên bình diện rộng. Bởi vì quy mô vốn tự có của chúng đều rất nhỏ, hạn hẹp, không đủ sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có chất lượng và hiệu quả, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cao thiết bị công nghệ sản phẩm. Mặt khác thị trường vốn dài hạn, thị trường chứng khoán chưa phát triển, điều kiện tham gia khó khăn. Đồng thời khả năng và điều HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM 13 kiện vốn tín đụng còn hạn chế.
Đây là khó khăn lớn nhất mà các DNV&N Việt Nam đang gặp phải cần tháo gỡ. - Về thiết bị công nghệ và thị trường: Trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc của DNV&N Việt Nam phần lớn sử dụng công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ ( có doanh nghiệp sản xuấtt công nghiệp vẫn phải sử dụng các thiết bị được sản xuất từ những năm 1960). Đã hạn chế rất lớn khả năng cạnh tranh của các DNV&N. Điều nay có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là nguyên nhân khách quan.
Phần lớn các DNV&N được thành lập trong những năm gần đây, tuy mới thành lập nhưng do thiếu vốn, thiếu kỹ năng quản lý cần thiết nên các nhà đầu tư chưa thể mua sắm được trang thiết bị máy móc hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm sản xuất ra. Phần lớn máy móc thiết bị cũ, được mua lại từ các doanh nghiệp Nhà nước bị giải thể, thanh lý để đáp ứng nhu cầu trước mắt mà chưa có chiến lược đầu tư trung và dài hạn. Gần đây đã có chuyên biến nhiều doanh nghiệp đã đổi mới thiết bị công nghệ. Mặc dù vậy, công nghệ thiết bị ở nhiều doanh nghiệp liên doanh có vốn nước ngoài cũng không sử dụng thiết bị hoàn toàn mới.
Chính vì vậy mà sản phẩm làm ra chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Gần đây, có một số mặt hàng như may mặc, đồ uống, thuỷ hải sản đã có chỗ đứng trên thị trường quốc tế nhưng số lượng còn rất nhỏ. - Lao động của các DNV&N Khu vực DNV&N vốn được xem như một khu vực thu hút nhiều lao động, góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, nhất là nước đông dân sống chủ yếu bằng nghề nông, dư thừa lao động và có thu nhập thấp như ở nước ta. Theo thống kê thì DNV&N thu hút khoảng 90% lực lượng lao động trong nước.
Tuy nhiên về tri thức, trình độ tay nghề của lực lượng lao động còn hạn chế. Đội ngũ lao động hiện nay có trong các DNV&N, phần đông có trình độ văn hoá cấp II (40-45%) , số có trình độ văn hoá phổ thông trung học cũng chiếm một ty trọng khá (20-30%) và số có trình độ tiểu học và chưa biết chữ còn chiếm tỷ trọng khá lớn (25-30%). Song, về trình độ tay nghề, kỹ thuật của người HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM 14 lao động trong các DNV&N hiện nay rất thấp đặc biệt ở khu vực nông thôn. Số lao động có tính chất phô thông, có trình độ tay nghề giản đơn, chưa được đảo tạo, bình quân chiếm khoảng (60-70%).
Ở một số vùng nông thôn, số được đào tạo nghề chính quy chỉ chiếm khoảng 10%. - Đội ngũ quản lý: Nói đến đội ngũ quản lý của DNV&N là nói đến những kiến thức và năng lực quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp. Thực tế đội ngũ các chủ doanh nghiệp ở nước ta hiện nay cho thấy, họ có nhiều bất cập với đòi hỏi của kinh doanh trong thương trường hiện đại. Đại đa số các chủ doanh nghiệp chỉ có trình độ kiến thức văn hoá phô thông cấp II (45-50%), một số không nhiều có trình độ văn hoá phổ thông trung hoc, cao dang va dai học (30-35%).
Còn một bộ phận đáng kế có trình độ văn hoá cấp tiểu học (10-15%), thậm chí cá biệt có người chưa đọc thông viết thạo. Chỉ có rất ít chủ doanh nghiệp (2-3%) của các DNV&N được đảo tạo kiến thức quản lý chính quy, một số Ít (20-30%) được tập huấn, đào tạo ngắn hạn (dưới 6 tháng), còn đại bộ phận chỉ quản lý doanh nghiệp mình bằng kinh nghiệm. - Về nhà xưởng, mặt bằng sản xuất- kinh doanh và các kết cầu hạ tang khác Điều kiện mặt bằng cho sản xuất-kinh đoanh của các DNV&N nhìn chung hiện đang rất chật hẹp và gặp nhiều khó khăn trong việc tạo lập và mở rộng mặt bằng, do cơ chế chính sách chưa thích hợp và khả năng tài chính hạn chế của các doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp phải thuê mượn lại mặt bằng của các DNNN, hoặc phải dùng nhà ở làm nơi sản xuất, kinh doanh, giao dịch, giới thiệu, bán hàng.
Hệ thống điện nước cung cấp cho các DNV&N nhiều nơi không đảm bảo. Hệ thống xử lý nước thải và rác thải của các DNV@&NÑ hầu như không có, gây tác hại rất lớn tới môi trường sống. - Về khả năng tiếp cận thông tin và hệ thống thông tin: Khả năng tiếp cận thông tin của các DNV&N ở nước ta hiện rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn đo hệ thống thông tin chưa đáp ứng được những yêu cầu của HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM 15 sản xuất-kinh doanh, chưa nhanh nhạy, kịp thời, chính xác và đầy đủ. Mặt khác, các DNV&N không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin do nguồn tài chính hạn hẹp, trình độ thu thập, xử lý thông tin của các chủ doanh nghiệp còn rất hạn ch.
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA VP BANK 2. Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, tên quốc tế là Vietnam Joint-stock Commercial Bank for Private Enterprises viết tắt là VP BANK là một ngân hàng Thương mại Cổ phần được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP có hiệu lực từ ngày 12 tháng 08 năm 1993 trong thời hạn 99 năm. Ngày 04 tháng 09 năm 1993 ngân hàng chính thức đi vào hoạt động. Những năm từ 1994 đến 1996 là giai đoạn phát triển năng động của VP Bank.
Trong giai đoạn này VP Bank đã đạt được những kết quả khả quan. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cô phần dat 36% nam trong nam 1995 va 1996; chat lượng tín dụng đảm bảo và các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, VP Bank đã gặp phải một số khó khăn nhất định, một phần do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, tình hình cạnh tranh với các ngân hàng trên cùng một địa bàn ngày càng gay gắt, một phần do những sai lầm chủ quan từ phía Ngân hàng. Vì thế thời gian tiếp theo từ 1997 đến 2001 là giai đoạn củng cố và tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn mới.
Trong giai đoạn này VP Bank đã nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan thuộc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc khắc phục những khó khăn trong hoạt động kinh doanh, vì thế tình hình VP Bank đã có nhiều biến chuyến thuận lợi và tạo đà phát triển bền vững. Năm 2000 đánh dấu một bước chuyên biến quan trọng trong quá trình phát triển của VP Bank. Đó là việc Hội đồng quản trị quyết định lựa chọn mục tiêu HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM 16 chiến lược của VP Bank trong vòng mười năm tới là xây dựng VP Bank trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam và trong khu vực. Năm 2002, với định hướng đúng đắn của Ban Tổng giám đốc với tỉnh than năng động sáng tạo của cán bộ công nhân viên, kết hợp với các chính sách mở rộng đầu tư tín dụng và hàng loạt các biện tích cực, hiệu quả để tháo gỡ khó khăn, VP Bank đã thực sự chuyển mình, khẳng định sự năng động và nhạy bén trong kinh doanh.
Kết quả là đã từ lãi âm trở thành lãi đương và uy tín ngân hàng đang dần được khôi phục. Hiện nay, hệ thống VP Bank gồm Hội Sở Chính Hà Nội, ba chỉ nhánh : thành phố HCM,Hải Phòng ,Đà Nẵng; hai phòng giao dịch ở Ha Nội .