Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về tiếp cận tín dụng của hợp tác xã nông nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp Khái niệm HTX theo Luật Hợp tác xã 2003: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[12] Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.
- Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.[13] Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã [2] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Như vậy, HTX là sự phát triển ở trình độ cao hơn của kinh tế hợp tác mà được hình thành và nuôi dưỡng từ quá trinh hợp tác trong sản xuất, trong kinh doanh, tuy nhiên ở đó mức độ gắn kết giữa các thành viên trong tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ hơn, các quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối được thiết lập hiệu quả hơn. Theo đó, quan điểm của tác giả, có thể hiểu “Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Khái niệm tín dụng Tín dụng (credit) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, nhất là các khoản vay ngắn hạn. Cấp tín dụng có nghĩa là tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các khoản chi tiêu của người khác để đổi lấy một số tiền sẽ được hoàn trả trong tương lai.
Việc cho vay hay “tài trợ” được coi là gián tiếp khi nhà sản xuất hoặc nhà buôn cung cấp hàng hóa “dưới hình thức tín dụng” tức mua chịu, không phải trả tiền ngay). Việc một người “có một khoản tín dụng” đồng nghĩa việc anh ta có một phương tiện để mua hàng hóa mà không phải trả tiền ngay, hoặc có thể rút tiền từ một tổ chức cho vay nào đó. Trong môn kinh tế tiền tệ, khái niệm “tín dụng” thường được dùng để chỉ các loại hình cho vay có hiệu ứng tiền tệ, tức làm tăng cung ứng tiền tệ (khi sự gia tăng mức cho vay của ngân hàng dẫn tới sự gia tăng của tiền gửi ngân hàng), hoặc làm tăng các phương tiện thay thế tiền, chẳng hạn tín dụng thương mại. Mối quan hệ giữa tiền và tín dụng này là mối liên hệ trực tiếp ở cấp kinh tế vĩ mô, khi người ta phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền tệ trên phương diện mở rộng tín dụng trong nước [8].
Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay (quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hệ vay mượn), là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thỏa thuận, hết thời hạn thì người đi vay phải trả cho người cho vay số tài sản kèm theo một số lợi tức. Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay mượn trong thời hạn nào đó. Khái niệm vay mượn bao gồm sự hoàn trả. Chính sự hoàn trả là đặc trung thuộc bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù cấp phát tài chính khác.[8] Tín dụng là một phạm trù kinh tế, thể hiện quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng tư bản giữa người cho vay và người đi vay trên ba nguyên tắc: có hoàn trả, có thời hạn và có đền bù.
Đối tượng của tín dụng là vốn vay, là tư bản “lưu động” ở dạng thể lý (hàng hóa, vật tư) hay dạng tài chính (tiền giao dịch, tiền tín dụng) được sử dụng với mục đích tạo lãi. Chủ thể tham gia tín dụng bao gồm các cá nhân và tổ chức hợp pháp đóng vai trò đi vay hoặc bên cho vay. Tóm lại, tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của tiền tệ (vốn vay), bên cạnh đó còn là một loại quan hệ xã hội, trước hết dựa vào lòng tin. Khi một tổ chức tín dụng cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, trước hết là họ tin tưởng khách hàng có khả năng trả nợ món nợ đó.
Tín dụng từ xa xưa dựa vào lòng tin là chủ yếu, ngày nay nó được pháp luật bảo trợ. Tín dụng biểu hiện các mối liên hệ kinh tế gắn liền với các quá trình phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả. Cơ sở vật chất tín dụng là tiền tệ và hàng hóa. Khái niệm tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là bất cứ loại chương trình tiết kiệm và cho vay, nhằm mục đích tác động đến một số cư dân nông thôn.
Tùy theo tính chất của tín dụng nông thôn, kế hoạch tín dụng có thể tập trung vào việc cung tín dụng, đảm bảo mua sắm trang thiết bị mới, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đổi mới hoặc cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn [25]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Ở nhiều nước, tín dụng nông thôn được mở rộng dưới sự bảo trợ của chương trình chính phủ. Thông thường, các chương trình này tập trung vào việc tăng cường các nổ lực của nông nghiệp trong nước cũng như một phương tiện nhằm củng cố nền kinh tế. Với tài trợ của chính phủ, nông dân và chủ trang trại thường xuyên có được nguồn vốn để duy trì sản xuất của họ, sau đó hoàn trả khoản vay khi vật nuôi và cây trồng được bán.
Tín dụng được mở rộng như một phương tiện của việc giữ cân bằng giữa nhập khẩu và xuất khẩu, bằng cách đảm bảo một phần trăm nhất định của cây trồng và các sản phẩm nông nghiệp khác được sản xuất trong nước. Như vậy, “hoạt động tín dụng nông thôn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho hộ sản xuất nông nghiệp”. Khái niệm tiếp cận tín dụng Theo Jesse Ribot và Nancy Peluso (2013) cho rằng thuật ngữ tiếp cận được định nghĩa là: “Khả năng hưởng lợi từ cái gì đó”. Theo hai tác giả này tiếp cận nên được hiểu là một tập hợp các quyền và quan hệ cho phép các cá nhân hay nhóm “lấy được, quản lý và giữ được”.[25] Tiếp cận tín dụng thu hẹp khoảng cách giữa sản xuất và tiêu thụ.
Vì tiếp cận vốn tín dụng giúp cho cung và cầu vốn có thể gặp nhau, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của cả người cho vay và người đi vay được thuận lợi, qua đó rút ngắn được khoảng cách giữa sản xuất và tiêu thụ [18]. Tiếp cận là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt. Sự tiếp cận có thể được xem như khả năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tiếp cận tín dụng chính là việc các tổ chức có thể vay được vốn tín dụng hay không và họ có được hưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lợi từ việc vay vốn tín dụng hay có rào cản nào trong việc tiếp xúc với nguồn vốn đó.
Đặc điểm, vai trò và phân loại tiếp cận tín dụng của hợp tác xã nông nghiệp 1. Đặc điểm tiếp cận tín dụng - Chủ thể thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng. - Thời gian tín dụng được xác định do thỏa thuận người cho vay và người đi vay vốn. - Người sở hữu vốn tín dụng được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức.
Vai trò tiếp cận tín dụng - Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp - Góp phần nâng cao thu nhập và đời sống nông dân, thu hẹp sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị - Thúc đẩy xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn, đảm bảo cho người dân có điều kiện áp dụng các kỹ thuật công nghệ vào sản xuất kinh doanh tiến bộ. - Đẩy mạnh phát triển ngành mũi nhọn thu nhiều ngoại tệ cho quốc gia - Góp phần tích lũy cho ngành kinh tế - Gia tăng lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng - Góp phần xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi ở nông nghiệp nông thôn - Tạo công ăn việc làm cho người dân Tóm lại, có thể nói rằng tín dụng không phải là thiết yếu cũng không phải là thích đáng để thúc đẩy phát triển nông thôn nhưng hệ thống tài chính có thể hoạt động như một sức mạnh. Hệ thống tài chính có ảnh hưởng đến phần vốn cho mục đích phát triển trong ba mặt chính.