CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): “FDI là việc một nước đầu nhận được tài sản từ nước khác và có quyền quản lý số tài sản đó. Từ đó hình thành nên mối quan hệ giữa hai nước là nước chủ đầu tư và nước thu hút đầu tư.” Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư qua biên giới, theo đó người cư trú của một nước có quyền kiểm soát hoặc có khả năng kiểm soát phần lớn vào việc quản lý của một doanh nghiệp là người cư trú của một nền kinh tế khác.” Tóm lại, từ những định nghĩa trên có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: “FDI (Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư mà các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thực hiện bằng cách mua cổ phần, thành lập công ty con, liên doanh hoặc mở chi nhánh tại một quốc gia khác.
FDI được coi là một nguồn vốn quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của các quốc gia đón nhận. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài Nội dung trình bày của Phùng Xuân Nhạ (2013) có 03 cách tiếp cận để phân loại FDI. Theo mục đích đầu tư Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm 2 loại chính: “Đầu tư theo chiều ngang (horizontal integration-HI) và đầu tư theo chiều dọc (vertical integration- VI). Hình thức HI phù hợp với các chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh ví dụ về công nghệ, kỹ thuật quản lý,.
trong sản xuất một loại sản xuất một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này, họ có thể kiếm lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra nước ngoài. Khác với hình thức HI, hình thức VI là đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ như lao động, đất đai,. Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác các lợi thế 6 cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế.
Theo chiến lược đầu tư Xét theo chiến lược đầu tư, đầu tư được thực hiện theo hai kênh chủ yếu là: “Đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại & sáp nhập (mergers and acquisitions –M&A). Đầu tư mới là việc các chủ đầu tư thực hiện ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Ngược lại, kênh M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại & sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài.
Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Theo tính chất sở hữu - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: “Doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.” - Doanh nghiệp liên doanh: “Doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà.” - Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Hợp doanh): “Văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên (nước ngoài và sở tại) để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà mà không thành lập pháp nhân mới.” - Hợp đồng BOT (Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao): “Văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp, khai thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định (thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý), sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.” 7 - Công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: “Doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần khác nhau được gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp.” - Mua lại và Sáp nhập (M&A): “Hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư chủ yếu tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Đầu tư theo hình thức M&A là xu hướng phổ biến hiện nay và hình thức này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng FDI trên thế giới.” - Công ty mẹ - con (Holding Company): “Một tổ chức các công ty gồm “công ty mẹ” và các “công ty con, cháu”. Mối liên kết giữa công ty mẹ và công ty con, cháu là liên kết về vốn.
Công ty mẹ sở hữu vốn cổ phần trong các công ty con, cháu. Nó chi phối các công ty con, cháu về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Do vậy, sở hữu vốn của các công ty con, cháu là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ) nhưng có một chủ (công ty mẹ) đóng vai trò khống chế, chi phối tài chính.” - Chi nhánh công ty nước ngoài: “Khác với công ty con 100% vốn nước ngoài, hình thức chi nhánh không phải là một pháp nhân độc lập và nếu như trách nhiệm của công ty con chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của nước sở tại thì trách nhiệm của chi nhánh, theo quy định của một số nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghiên cứu của Vũ Chí Lộc (2011) đã đưa ra những tác động tích cực và tiêu cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư.
Tác động tích cực a) Đối với nước đi đầu tư: Việc đầu tư ra nước ngoài không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng lợi thế sản xuất của nước sở tại, giảm chi phí sản xuất mà còn tăng khả năng thu hồi vốn đầu tư và tạo ra thị trường tiềm năng cho nguồn cung cấp nguyên liệu với giá cả hợp lý, ổn định. Bên cạnh đó, việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra nước ngoài cũng 8 góp phần phát triển kinh tế và củng cố uy tín chính trị của quốc gia đi đầu tư trên thế giới. Bằng việc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh và tận dụng thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, doanh nghiệp FDI có thể mở rộng phạm vi hoạt động thương mại, tránh được rủi ro từ hàng rào bảo hộ thương mại của các quốc gia. b) Đối với nước nhận đầu tư: - Góp phần bổ sung một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển: “Trong các nguồn vốn nước ngoài thì nguồn vốn FDI được đánh giá là rất quan trọng đối với nhiều nước.
FDI chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của các nước đang và kém phát triển. Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra các liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu, gia công. Qua đó FDI thúc đẩy đầu tư trong nước phát triển, gắn kết các công ty trong nước với thị trường thế giới. Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác với hiệu quả cao.” - Có được các công nghệ phù hợp, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: “Bên cạnh việc thiếu vốn để phát triển, các nước đang phát triển còn có nhu cầu rất lớn về công nghệ.
FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước thông qua con đường chuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở nước chủ nhà để phục vụ cho các dự án đầu tư.” - FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: “Với tỷ trọng vốn FDI vào các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nguồn vốn này đã góp phần tăng nhanh tỷ trọng về sản lượng, việc làm, xuất khẩu,. của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong nền kinh tế của các nước đang phát triển. Tỷ trọng của các ngành kinh tế truyền thống (nông nghiệp, khai thác .” - FDI có tác động tích cực đối với các cân đối lớn của nền kinh tế: “Các dự án FDI góp phần ổn định kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển. Các cân đối lớn của nền kinh tế như cung cầu hàng hóa trong nước, xuất nhập khẩu, thu chi ngân sách đều thay đổi theo chiều hướng tích cực nhờ sự đóng góp của FDI.” 9 - Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới: “Vai trò này của FDI thể hiện rất rõ nét ở các nước áp dụng chính sách thu hút FDI hướng vào xuất khẩu.
Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu. Các dự án FDI tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế hơn. Bên cạnh đó thông qua các mối quan hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI tiếp cận được thị trường thế giới. Như vậy, FDI đã vừa làm tăng năng lực xuất khẩu vừa mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư.” - FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực: “FDI giúp các nước đang triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động dồi dào.
ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người lao động đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo. Nhìn chung, số lượng việc làm trong khu vực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ở các nước đang phát triển có xu hướng tăng lên.