Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luậnvà thực tiễn về thu hút vốn đầu tư trên địa bàn cấp tỉnh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu luận văn. Chương 3: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Chương 4: Định hướng phát triển, mục tiêu và một số giải pháp trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Yên Bái đến năm 2025.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, đã cónhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về hoạt động thu hút vốn đầu tư được thực hiện theo các góc tiếp cận khác nhau. Một số công trình tập trung vào những vấn đề lý luận chung về hoạt động thu hút vốn đầu tư như bản chất, đặc điểm, vai trò, các hình thức, tác động… để từ đó đưa ra những luận điểm, giải pháp cho vấn đề đó. Việc nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư đã có nhiều bài viết nghiên cứu chuyên sâu theo một khía cạnh nào đó, và cũng có nhiều bài viết được phân tích rõ nét mang tính cấp thiết trên các tạp chí.
Tuy vậy, các bài viết chỉ giải quyết được một phần vấn đề hạn chế theo từng chuyên đề nghiên cứu. Một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu: Nguyễn Mạnh Toàn (Trường ĐHKT- ĐH Đà Nẵng) (2010) Các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định những nhân tố chủ yếu giúp thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam. Sau khi nghiên cứu tổng quan các vấn đề lý luận và thực hiện phỏng vấn các nhà đầu tư nước ngoài, tác giả đã xác định được 8 nhân tố phân thành 4 nhóm phục vụ cho việc nghiên cứu.
300 bản câu hỏi điều tra đã được gửi đến các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh để khảo sát. Kết quả điều tra cho thấy một số nhân tố được đánh giá là quan trọng hơn các nhân tố khác. Trong đó cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự ưu đãi và hỗ trợ của chính quyền địa phương, chi phí hoạt động thấp là những nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng mang tính quyết định khi nhà 5 đầu tư nước ngoài xem xét lựa chọn địa điểm đầu tư tại Việt Nam. Hạn chế: Có thể có một mối quan hệ tương hỗ giữa các nhân tố, ví dụ sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ kéo theo sự phát triển của các nhân tố khác và ngược lại vẫn chưa được nghiên cứu sâu.
Nguyễn Hoàng Việt (2013) Marketing địa phương nhằm thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp ở các tỉnh, thành phố Việt Nam (Nghiên cứu điển hình trường hợp tỉnh Hà Tĩnh). Trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu một khía cạnh cốt lõi của marketing, để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng marketing thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư vào tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và các tỉnh thành khác nói chung. Nội dung nghiên cứu tập trung vào giá trị cung ứng cho các nhà đầu tư của một địa phương được xem xét như thế nào, cấu trúc của chúng trong phối thức marketing địa phương, thực trạng đánh giá marketing địa phương qua chỉ số sức hút đầu tư đối với trường hợp tỉnh Hà Tĩnh. Qua bài viết này chúng ta sẽ có cái nhìn thêm về một góc độ nào đó, áp dụng cho hoạt động thu hút vốn đầu tư.
Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013), Nghiên cứu định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Ưu điểm: Nghiên cứu đã chỉ ra được những đặc thù cơ bản nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến nay.Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh so với các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực, tuy nhiên điều đáng lo ngại là nguồn vốn này lại tập trung quá nhiều vào lĩnh vực bất động sản. Nghiên cứu cũng chỉ ra những thay đổi rõ rệt trong chuyển dịch xu hướng đầu tư từ khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng tới khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian gần đây. Nhận ra xu hướng 6 này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các vùng phát huy thế mạnh của mình, cải thiện điểm yếu và có những kế hoạch lâu dài, tổng thể.
Phần phân tích định lượng đã chỉ ra những thay đổi trong quyết định lựa chọn đầu tư, tiến tới những thị trường mới, tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao động rẻ, và sẵn sàng chấp nhận những hạn chế về cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, việc hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn luôn là nhân tố quan trọng. Chính sách chính phủ, mà cụ thể là chính sách đất đai, cung ứng dịch vụ công và hỗ trợ đào tạo lao động là những nhân tố cho thấy ảnh hưởng mạnh đến FDI. Qua đây, nghiên cứu cổ vũ mạnh mẽ cho quá trình cải thiện và trong sạch hóa bộ máy quản lý nhà nước cấp tỉnh.
Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những lĩnh vực nào, địa phương nào đang thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chứ chưa đưa ra những giải pháp để thu hút vốn cho từng địa phương cụ thể. Nguyễn Thị Thương (ĐH Kinh tế quốc dân), “Để tăng cường thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Số 23/2013). Nghiên cứu nêu lên những hoạt động FDI của Nhật Bản tại Việt Nam từ năm 1989 đến năm 2012, những hạn chế về tổng vốn đầu tư, về cơ cấu ngành, về hình thức đầu tư và địa bàn đầu tư. Từ đó, đưa ra một số đề xuất để thu hút hiệu quả hơn nữa nguồn vốn FDI của Nhật Bản: Thứ nhất, cải thiện môi trường đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư; thứ hai, hoàn thiện kết cấu hạ tầng; thứ ba, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư; thứ tư, tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung vào một số ngành, sản phẩm trọng điểm; thứ năm, cần tăng cường hỗ trợ, ưu đãi tài chính cho các dự án đã và đang được triển khai, tận dụng, thu hút triệt để vốn đăng ký từ các tập đoàn, doanh nghiệp Nhật Bản; thứ sáu, tăng cường và có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.S Nguyễn Ngọc Mai (2013), “Bí quyết thu hút FDI tại Singapore và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Số 16/2013).
Bài viết đã đưa ra một số bí quyết đã giúp Singapore trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư liên tục đầu tư vốn vào quốc đảo ngay cả trong những nămkinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng. Thông qua bài nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm cho Việt Nam: Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh; Hai là, công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thông tin về quy hoạch để xây dựng kế hoạch đầu tư; Ba là, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; lựa chọn các dự án tiềm năng hấp dẫn, có tính khả thi cao theo các lĩnh vực ưu tiên để đưa vào danh mục dự án đối tác công - tư (PPP), bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tư đối ứng cho các dự án PPP kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài; Bốn là, tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung vào một số ngành, sản phẩm trọng điểm; Năm là, bên cạnh việc xúc tiến thu hút vốn FDI mới, cần tăng cường hỗ trợ, ưu đãi tài chính cho các nhà đầu tư đang hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam; Sáu là, tăng cường và có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Nguyễn Phúc Nguyên (2013) Nghiên cứu các nhân tố tác động đến thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp ở Miền Trung. Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư.
Khác với các bài viết khác thường tập trung vào các nhà hoạt động thu hút vốn, thì bài viết này chỉ ra những nhân tố tác động dưới góc nhìn của doanh nghiệp. Từ việc nghiên cứu và phân tích hành vi đầu tư của doanh nghiệp, bài báo nêu ra 7 lợi ích kỳ vọng từ đầu tư, ảnh hưởng của chính sách đến thu hút đầu tư và sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ là các nhân tố chính làm nảy sinh ý định đầu tư của các doanh nghiệp. Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tƣ trên địa bàn cấp tỉnh 1. Khái niệm, đặc điểm và mục tiêu cơ bản 1.
Các khái niệm cơ bản Khái niệm về Đầu tư Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội (Bùi Xuân Phong, 2006). Các loại đầu tư: - Đầu tư tài chính: là loại đầu tư mà người có thặng dư về tiền bỏ tiền ra cho cá nhân, tổ chức khác vay hoặc mua các chứng chỉ, giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước (như tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ quỹ, hợp đồng tiền gửi, mua trái phiếu chính phủ hay trái phiếu doanh nghiệp) hoặc lãi suất được xác định thông qua kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành(Bùi Xuân Phong, 2006). Loại đầu tư này sẽ không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân, mà nó chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. - Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó cá nhân, tổ chức có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá, dịch vụ sau đó bán lại cho cá nhân tổ chức khác với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận từ việc chênh lệch giá giữa giá mua và giá bán(Bùi Xuân Phong, 2006).