PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011 – 2020 với mục tiêu Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, Đảng và Nhà nước rất coi trọng phát triển công nghiệp, coi công nghiệp là ngành ưu tiên phát triển. Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh hưởng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Phía Bắc và Đông Bắc giáp Ninh Thuận, phía Tây Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây giáp Bình Thuận và phía Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu. Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200km, cách thành phố Nha Trang 250km. Có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam chạy qua; quốc lộ 28 nối liền Bình Thuận với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền với Trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu. Tổng diện tích đất tự nhiên 7.830 km2 với 10 đơn vị hành chính là thành phố Phan Thiết (tỉnh lỵ), thị xã Lagi và 8 huyện; trong đó có một huyện đảo Phú Quý.
Để hoàn thành mục tiêu đến năm 2020, Bình Thuận trở thành tỉnh công nghiệp-dịch vụ theo hướng hiện đại, năng động; Cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ liên thông với cả nước và quốc tế; Quan hệ sản xuất tiến bộ, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao thì việc phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm. Thời gian qua, các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Bình Thuận đã ra đời và trở thành một trong những địa điểm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; tạo động lực lớn cho quá trình tiếp thu khoa học công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến từ bên ngoài; tạo thêm nhiều việc làm, nhờ đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế với nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động các KCN vẫn tồn tại một số khó khăn, yếu kém. Đó là về vấn đề thu hút đầu tư, về nguồn lao động, về môi trường…Do đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất của các KCN chưa cao.
Do đó, tôi chọn đề tài “Giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Thuận" làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học với mục đích tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng thu hút đầu tư của các khu công nghiệp tỉnh Bình Thuận, từ đó có thể kiến nghị và đưa ra một số giải pháp giúp đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các KCN tại tỉnh Bình Thuận. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn những vấn đề chung về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư. Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh Bình Thuận. Đối tƣợng nghiên cứu: Vốn đầu tư của các dự án, nghiên cứu phân tích vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào các khu công nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi các Khu công nghiệp tại tỉnh Bình Thuận. Phƣơng pháp nghiên cứu: Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá … trên cơ sở sử dụng số liệu thống kê; tư liệu các KCN từ Ban quản lý các KCN Bình Thuận để phân tích, đánh giá, rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu có kế thừa các kiến thức, tài liệu liên quan; coi trọng những bài học kinh nghiệm. Kết cấu luận văn: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về vốn đầu tư, khu công nghiệp và thu hút đầu tư vào khu công nghiệp.
Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Thuận Chƣơng 3: Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh Bình Thuận. 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƢ, KHU CÔNG NGHIỆP VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1. VỐN ĐẦU TƢ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ 1. Khái niệm vốn đầu tƣ.
Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện nay. Vốn đầu tư là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dưới dạng giá trị tài sản quốc gia, được thể hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình nhằm mục đích đầu tư để sinh lời. Xét về bản chất nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Về cơ bản những đặc trưng của vốn là: - Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản, được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình.
- Vốn phải vận động sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền, để biến tiền thành vốn thì tiền phải thay đổi hình thái biểu hiện, vận động và có khả năng sinh lời. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu, khi xác định được chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được sử dụng hiệu quả. - Vốn được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới phát huy tác dụng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay vốn đầu tư được định nghĩa như sau: Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường ,việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực.
Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư. Vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Trong đầu tư xây dựng, vốn đầu tư được định nghĩa: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được 15 ghi trong tổng dự toán. Nguồn vốn đầu tƣ.
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dung để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư, đáp ứng nhu cầu đầu tư xây dựng các công trình, bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc. - Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia.
Đây chính là nguồn vốn dùng để đầu tư xây dựng các công trình công cộng, các hạng mục công trình an ninh quốc phòng và đầu tư cho các cơ sở phúc lợi xã hội. Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu từ nguồn thu của ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế, bán tài nguyên, thu lệ phí. - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nền kinh tế đất nước càng phát triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nếu như trước năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì giai đoạn 1991 – 2000 nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của Nhà nước.
Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế này, các đơn vị sử dụng phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư phải cân nhắc kĩ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Thông qua nguồn vốn này, Nhà nước thực hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế của các ngành, các vùng, miền. Góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
- Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn. Đây chính là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông thường vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp. Hiện nay, với chủ trương tiếp tục dổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày 16 càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân : Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để. Hiện nay, do tập tính tiêu dùng của dân cư nước ta là tiết kiệm dành những khi gặp rủi ro, nên lượng vốn này tích luỹ trong dân còn chưa được khai thác triết để, chưa được huy động một cách tích cực để bù đắp nhu cầu về vốn của nền kinh tế đất nước.