Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nắng trong bối cảnh hiện nay và đến 2010 Chương 2: Thực trạng thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nắng Chương 3: Các giải pháp cơ bản nhằm thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nắng đến năm 2010 Giải pháp thu hút và quản lý ĐTNN tại ĐN IPC Đà Nẵng CHUONG 1 VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHAT TRIEN KINH TE - XA HOI CUA THANH PHO DA NANG TRONG BOI CANH HIEN NAY VA DEN NAM 2010 1. Khái niệm, bản chất và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Dưới góc độ kinh tế, "đầu tư" được hiểu là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh nhằm hưởng phần lợi nhuận hoặc giải quyết những vấn đề thuộc kinh tế- xã hội. Hoạt động đầu tư có thể diễn ra trong phạm vi một quốc gia hoặc có thể được tiến hành trong phạm vi quốc tế. Đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế, trong đó, các nhà DTNN (tổ chức, cá nhân) đưa vốn hoặc tài sản, công nghệ vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt được các hiệu quả về mặt xã hội.
Nói cách khác, đầu tư quốc tế là sự đi chuyển vốn (dưới hình thức các phương tiện đầu tư như tiền mặt, hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình) từ nước này sang nước khác chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và các lợi ích kinh tế-xã hội khác. , Về bản chất, đầu tư quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Hai hình thức xuất khẩu này thường xuyên bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty nước ngoài. Trong nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng hóa ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường và môi trường đầu tư để đi đến quyết định đầu tư.
Sau đó, việc thành lập các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại nước sở tại chính là điều kiện để xuất khẩu máy móc, thiết bị và khai thác tài nguyên, nhân lực của nước chủ nhà. Cùng với thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế ngày càng phát triển, tạo thành những dòng chính trong quá trình liên kết và hợp tác kinh tế toàn cầu hiện nay. * Căn cứ vào tính chất sử dụng của tư bản, đầu tư quốc tế thường được chia thành 3 hình thức chủ yếu là đầu tư gián tiếp, tín dụng quốc tế và đầu tư trực tiếp”. - Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư quốc tế, trong đó chủ ĐTNN chỉ góp một số vốn nào đó dưới hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu mà không tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng quốc tế là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và kiếm lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay. Tín dụng quốc tế có hai hình thức chủ yếu là: Hỗ trợ *- Đại học Ngoại thương Hà Nội. Giáo rink Diu tư nước ngoài. NXB Chính trị.
2000 - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Những vấn để cơ bạn sẻ quản lÝ đẩu tự trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. 12/2000 Giải pháp thu hút và quản lý ĐĨNN tai DN IPC Da Nang phát triển chính thức (ODA) và nguồn vay tư nhân. Hình thức này được sử dụng khá phổ biến vì có những ưu điểm như: vốn vay chủ yếu dưới dang tiền tệ; nước tiếp nhận đầu tư có toàn quyền chủ động sử dụng vốn đầu tư cho mục đích của mình; nhà ĐTNN có thu nhập ổn định thông qua lãi suất tiền cho vay và không bị phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã vay vốn. Tuy nhiên, tín dụng quốc tế có nhược điểm là nước tiếp nhận vốn đầu tư dễ bị nhà ĐTNN trói buộc vào ảnh hưởng của mình, hiệu quả sử dụng vốn thường thấp do bên nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ cho vay tín dụng.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà DTNN đóng góp một số vốn nhất định (theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư) vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư. Khoản 1, Điều 2 của Luật ĐTNN tại Việt Nam (1996) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ĐTNN tại Việt Nam (2000) định nghĩa: ” Đầu tư trực tiếp nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Nhìn chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc trưng và thế mạnh riêng của nó. : Thứ nhất, ĐTNN mặc dù vẫn chịu sự chỉ phối của Chính phủ, nhưng it bi lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia so với hình thức tín dụng quốc tế.
Thứ hai, bên nước ngoài trực tiếp tham gia điều hành quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, trực tiếp kiểm soát hoạt động của đoanh nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho việc đầu tư. Vì vậy, mức độ khả thi và hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong các doanh nghiệp tương đối cao, đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng thị trường xuất khẩu. Thứ ba, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch vì thông qua đầu tư trực tiếp, nhà ĐTNN tạo được các doanh nghiệp nằm "bên trong" các nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch. Thứ tư, ĐTNN giúp nước tiếp nhận đầu tư tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ ĐTNN, đồng thời nâng cao dần trình độ quản lý và tay nghề cho người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Bên cạnh đó, nhờ có vốn ĐTNN cho phép nước chủ nhà 9 Gidi phdp thu Init va quan ly DTNN tai DN IPC Da Ning có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về đất đai, tài nguyên VV. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, bên cạnh những thế mạnh trén thi DINN cũng có những hạn chế nhất định. Cụ thể là, do hoạt động ĐTNN diễn ra theo cơ chế thị trường, các nhà ĐTNN thường có nhiều kinh nghiệm cả về đàm phán lẫn kỹ năng quản lý và điều hành; còn phía đối tác của nước chủ nhà lại thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin. nhưng lại cần vốn để phát triển.
Có không ít trường hợp bên tiếp nhận đầu tư bị thua thiệt trong khi ký hợp đồng và cả khi dự án đã đi vào hoạt động. Mặt khác, phía nước tiếp nhận đầu tư không hoàn toàn chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng, lãnh thổ, bị phụ thuộc vào sự quyết định đầu tư của nhà ĐTNN nên cơ cấu đầu tư thường không theo mong muốn, đôi khi dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. * Xét về mặt động cơ, hầu hết các nhà ĐTNN đều có chung một động cơ là tìm kiếm thị trường đầu tư hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao nhất và đảm bảo sự thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từng chủ đầu tư lại có những động cơ riêng tùy thuộc vào chiến lược phát triển và mục tiêu của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài.
Các loại động cơ khác nhau sẽ tạo nên các định hướng khác nhau trong ĐTNN và cũng là cơ sở để phân loại ĐTNN theo động cơ": - Đầu tư tìm kiếm nguồn lực: mục đích của loại đầu tư này nhằm khai thác nguồn lực của nước tiếp nhận đầu tư (như các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhận lực). Các dự án đầu tư khai thác dầu khí, khoáng sản hoặc khai thác và chế biến nông - lâm - thủy sản đều thuộc loại đầu tư tìm kiếm nguồn lực. - Đầu tư tìm kiếm thị trường: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang các nước khác. Việc đầu tư và sản xuất sản phẩm ở nước sở tại giúp nhà đầu tư tiết kiệm chỉ phí vận chuyển, nâng cao tỷ suất lợi nhuận và quan trọng hơn là họ có thể tránh được hàng rào bảo hộ của nước sở tại.
- Đầu tư định hướng chỉ phí: là hình thức đầu tư nhằm giảm chi phí sản xuất bằng việc tận dụng nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và nguồn tài nguyên phong phú của nước tiếp nhận đầu tư nhằm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm và tăng tỷ suất lợi nhuận. Đầu tư này phù hợp với những dự án sử dụng nhiều lao động, sử dụng máy móc thiết bị cũ và lạc hậu có mức độ ô nhiễm cao (thường thì loại thiết bị này không được phép sử dụng ở các nước chủ đầu tư). * Co quan đảm báo dau tư đa biên - MÍGA và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kỹ năng Xúc tiến dau ne. NXB Chính trị Quốc gia.
2002 Giải pháp thu hút và quần lý ĐĨNN tai DN IPC Da Ning Ngày nay, ĐTNN đã trở thành một nhu cầu tất yếu trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất và lưu thông. Có thể nói hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cần đến nguồn vốn ĐTNN. Đó là nguồn lực bên ngoài được các quốc gia khai thác triệt để nhằm từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Mặt khác, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ như hiện nay, ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật mạnh như Mỹ, Nhật Bản và các nước EU cũng không thể tự mình giải quyết có hiệu quả những vấn đề đã, đang và sẽ đặt ra trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ và vốn.
Nó đòi hỏi phải có sự phân công lao động quốc tế trên cơ sở lợi thế so sánh để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư.