CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC BÁN LẺ 1. Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm Sau những năm 1960, sự nổi lên của các chính sách tự do hóa và toàn cầu hóa thương mại, việc mở rộng đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng lên đáng kể.
Những lý giải đầu tiên về FDI được xuất hiện trong luận án tiến sĩ của Hymer vào năm 1960 và chính thức được công bố vào năm 1976. Bài luận của ông chính là bước ngoặt trong nghiên cứu về FDI. Theo Hymer, lý do quốc tế hóa của các công ty gồm 2 ý chính: Một là các biến liên quan đến quy mô của công ty, quyền sở hữu tài sản và biến số xuất phát từ sự tồn tại của các thị trường thất bại. Hymer chứng minh rằng FDI chỉ ra diễn ra khi doanh nghiệp phải có lợi thế độc quyền.
Khi thực hiện đầu tư vượt biên giới, nhà đầu tư gặp nhiều bất lợi về chi phí vận chuyển, khoảng cách địa lý, thông tin, chi phí về thiết lập các mối quan hệ với khách hàng sẽ tốn kém hơn so với các công ty bản địa. Có những lợi thế độc quyền nhất định sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công ty nội địa, độc quyền ở đây có thể là về công nghệ hay nhãn hiệu. Ngoài Hymer, cũng có nhiều nhà nghiên cứu đã có những đóng góp nổi bật vào việc lý giải về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp như Kindleberger, Caves, Dunning, Vernon…Cụ thể: Lý thuyết về chu kỳ sản xuất do Vernon phát triển vào năm 1966 đã được sử dụng để giải thích một số loại đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện bởi các công ty Hoa Kỳ ở Tây Âu sau Thế chiến thứ hai trong ngành sản xuất. Lý thuyết của Vernon dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh và phân tích mối quan hệ giữa vòng đời sản phẩm và các luồng FDI có thể.
Ông tin rằng có bốn giai đoạn của chu kỳ sản xuất: Đổi mới, tăng trưởng, trưởng thành và suy giảm. Ở giai đoạn đổi mới: các công ty địa phương tạo ra các sản phẩm sáng tạo mới chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của địa phương và xuất khẩu thặng dư phục vụ thị trường nước ngoài. Giai đoạn hai – tăng trưởng: khối lượng nhu cầu được tăng lên và các sản phẩm trở nên tiêu chuẩn hơn, thị trường địa phương đã bão hòa, các công ty lúc này bắt đầu mở rộng hoạt động của họ 6 ra nước ngoài, nơi có chi phí sản xuất rẻ và khả năng cạnh tranh được tăng cường. Giai đoạn ba – trưởng thành: sản phẩm trở lên tiêu chuẩn hóa và giá cả trở thành nhân tố quan trọng để cạnh tranh trên thị trường.
Do đó số lượng các công ty mở rộng ra thị trường nước ngoài tăng lên, tạo ra giá trị gia tăng cho các sản phẩm của mình. Do đó, xuất khẩu hàng hóa bị đe dọa và buộc các công ty phải sản xuất hàng hóa ở nước sở tại thông qua các công ty con ở nước ngoài. Dunning cho rằng một công ty muốn tham gia vào hoạt động FDI cần hội tụ 3 yếu tố: (1) Lợi thế về vốn sở hữu (Owershop advantages – O): bao gồm lợi thế về tài sản, (2) lợi thế về địa điểm (Location advantages - L) và cuối cùng là (3) lợi thế nội bộ hóa (Internalization advantage – I). Bộ 3 lợi thế này còn được biết đến với tên gọi là mô hình OLI.
Theo thuyết chiết trung của Dunning thì cả 3 nhân tố trên phải được đồng thời thỏa mãn trước khi thực hiện FDI, O và I là nhân tố “đẩy” còn L là nhân tố “kéo” FDI. Kindleberger (1969) đưa ra quan điểm rằng trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ không còn tồn tại. Do đó, nếu thị trường hoạt động hiệu quả và không có rào cản về thương mại hoặc cạnh tranh, thương mại quốc tế là cách duy nhất để tham gia thị trường quốc tế. Ngày nay, FDI đang được chú ý nhiều hơn ở cả cấp quốc gia và quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức, có những định nghĩa khác nhau về nó: Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1996): Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; Tham gia vào một doanh nghiệp mới; Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm); Quyền kiểm soát phải đạt tối thiểu 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
7 Như vậy, FDI theo quan điểm của OECD có thể được thực hiện theo 5 cách kể trên tuy nhiên vẫn với mục đích là thiết lập mối quan hệ dài lâu và khoản vốn đầu tư có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Quỹ tiền tệ quốc tế IMF định nghĩa FDI là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”. Như vậy với định nghĩa của IMF, FDI là một khoản đầu tư dài hạn của nhà đầu tư với mục đích nắm quyền kiểm soát và có ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp đặt tại nước tiếp nhận đầu tư.
Trong Luật Đầu tư nước ngoài (1987) của Việt Nam có đưa khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này.” Theo khái niệm này, FDI là dòng chảy về vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác dưới hình thức là hợp đồng, liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Từ những định nghĩa trên, có thể định nghĩa FDI là hoạt động kinh doanh quốc tế mà nhà đầu tư ở quốc gia này rót vốn đầu bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản hợp pháp nào vào quốc gia khác để có quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó. Bản chất của FDI mang tính lâu dài, gắn liền với sự chuyển giao công nghệ và chịu sự điều chỉnh của các hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đòi hỏi các chủ đầu tư phải tuân theo. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có nhiều các phân chia theo các tiêu chí khác nhau.
Khóa luận tập trung phân tích 4 cách phân chia: Cách phân chia thứ nhất, xét theo động cơ của nhà đầu tư, Caves (1971) phân biệt giữa FDI theo chiều ngang (horizontal FDI), FDI theo chiều dọc (vertical FDI) và FDI hỗn hợp (conglomerate FDI). FDI theo chiều ngang được hiểu là hình thức FDI được tiến hành với mục đích là mở rộng quy mô sản xuất các hàng hóa cùng loại hoặc tương tự ở trong 8 nước tại nước ngoài (tại quốc gia nhận đầu tư). Với hình thức này, nhà đầu tư có thể tận dụng triệt để lợi thế cạnh tranh theo quy mô, từ đó đó khai thác được lợi thế độc quyền và độc quyền nhóm nhờ yếu tố dị biệt hóa sản phẩm, tối ưu lợi ích cho doanh nghiệp; FDI theo chiều dọc gồm backward vertical FDI và forward vertical FDI được tiến hành với 2 mục đích khác nhau. Đầu tiên, backward vertical FDI được tiến hành với mục đích khai thác các yếu tố đầu vào: nguồn lực giá rẻ, nguyên vật liệu có sẵn… Thứ hai, forward vertical FDI, nhà đầu tư muốn khai thác và xúc tiến các kênh phân phối tại thị trường nước ngoài để đẩy nhanh quá trình đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng; FDI hỗn hợp được hiểu là việc chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
Mục tiêu của hình thức FDI này là nhằm đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh phân tán rủi ro theo quy tắc “không bỏ hết trứng vào cùng một giỏ” nhằm phân tán rủi ro, xâm nhập ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Cách phân chia thứ hai, xét theo định hướng của nước nhận đầu tư, FDI có thể phân loại thành: FDI thay thế nhập khẩu, FDI gia tăng xuất khẩu và FDI do chính phủ khởi xướng. Với FDI thay thế nhập khẩu liên quan tới việc sản xuất các hàng hóa mà trước đây nước nhận đầu tư phải nhập khẩu, điều này dẫn đến việc nhập khẩu của nước đầu tư và xuất khẩu của nước đi đầu tư sẽ giảm xuống. Loại hình này thường phụ thuộc vào quy mô thị trường của quốc gia nhận đầu tư, chi phí vận chuyển và hàng rào thương mại.
Ngược với loại hình FDI này là FDI gia tăng xuất khẩu, với mục đích tìm kiếm nguồn đầu vào mới: nguyên vật liệu thô hay các hàng hóa trung gian… FDI gia tăng xuất khẩu sẽ tăng cường xuất khẩu nguyên liệu thô và các sản phẩm trung gian của quốc gia nhận đầu tư sang các quốc gia đi đầu tư và những quốc gia khác (nơi có các công ty con của các tập đoàn đa quốc gia). Loại thứ 3, FDI do chính phủ khởi xướng nhằm mục đích loại bỏ thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế bằng cách thu hút các nhà ĐTNN vào trong nước hay liên quan đến các ngành sản xuất yếu kém, khó khăn để phát triển như cơ sở hạ tầng hay nông nghiệp… Cách phân loại thứ ba, xét trên cơ sở nguồn vốn hay vốn sở hữu hình thành của doanh nghiệp, có thể chia FDI thành các hình thức: Hình thức doanh nghiệp liên 9 doanh, doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN, hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: BOT, BT… Hình thức doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture) khá phổ biến trong FDI và thường được các nhà ĐTNN lựa chọn khi muốn thâm nhập vào thị trường nước ngoài.