CHƯƠNG 1 5 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài với nhiều khía cạnh khác nhau, chủ yếu tập trung phân tích thực trạng thu hút FDI của Việt Nam cũng như các khu công nghiệp của một số địa phương đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đã có một số công trình khoa học đề cập đến vai trò của FDI đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển công nghiệp thương mại, dịch vụ…Bắc Giang là một trong những địa phương có tiềm lực phát triển kinh tế mạnh mẽ nên có khá nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về việc thu hút FDI của tỉnh Bắc Giang, có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu sau: Bùi Thị Thu Thủy (2015), Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Tác giả đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhất là các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào phát triển các khu, cụm công nghiệp, đồng thời phân tích khá sâu sắc thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu, cụm công nghiệp của tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các khu, cụm công nghiệp mà chưa đề cập đến các khu vực khác trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Tác giả đã tập trung nghiên cứu các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và đề cập khá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương, bao gồm nhóm nhân tố từ môi trường kinh tế vĩ mô, nhóm nhân tố nội tại của địa phương và nhóm nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, đối với phần thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác giả phân tích khá chung chung, chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá đối với từng ngành, lĩnh vực và chưa có cái nhìn tổng quan về tình hình thu hút FDI của địa phương 6 trong thời gian nghiên cứu. Đào Duy Trọng (2018), Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bắc Giang (Luận văn thạc sỹ Kinh doanh và quản lý, Trường Đại học Thăng Long). Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thu hút vốn FDI tại một quốc gia, một địa phương cụ thể là tỉnh Bắc Giang, đánh giá được tổng quan về thực trạng thu hút vốn FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian nghiên cứu, đồng thời phân tích được những nguyên nhân và hạn chế thu hút vốn FDI tại địa phương. Tuy nhiên, một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI mà tác giả đưa ra chưa có tính thực tiễn cao, khó áp dụng trong tình hình hiện nay của địa phương.
Nguyễn Văn Giang (2020), Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Giang đến năm 2025 (Luận văn thạc sỹ Thống kê, Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh). Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê thu thập, tổng hợp số liệu, phân tích so sánh đối chiếu các kỳ số liệu và khái quát hóa, hệ thống hóa được các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến FDI trong cả nước nói chung và ở địa phương Bắc Giang nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra được các giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm đẩy mạnh thu hút các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến hết năm 2020 và trong giai đoạn tiếp theo.
Tuy nhiên, đối với thực trạng thì tác giả chưa phân tích sâu sắc tình hình thu hút và thực hiện các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Nhìn chung các công trình khoa học nêu trên đã đề cập khá chi tiết, cụ thể về thực trạng cũng như giải pháp thu hút vốn FDI và đã có những đóng góp nhất định cho đợn vị nơi đề tài thực hiện. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập về nguồn gốc lý thuyết liên quan đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với một địa phương. Bên cạnh đó, về việc phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp, mỗi công trình đều có những mặt hạn chế, những khiếm khuyết cần được bổ sung, chỉnh sửa.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình đã có, luận văn này tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về thu hút đầu tự trực tiếp nước ngoài, đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua, từ đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế và rút ra được những nguyên nhân trong 7 việc thu hút nguồn vốn FDI vào Bắc Giang để đề xuất định hướng, các giải pháp nhằm tăng cường thu hút các dự án đầu tự trực tiếp nước ngoài vào địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Như vậy, đề tài luận văn vẫn là cần thiết, có ý nghĩa lý luận thực tiễn và không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố. 8 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI MỘT ĐỊA PHƯƠNG 2. Một số vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.
Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm Đầu tư nước ngoài là một trong những hình thức cơ bản của kinh tế quốc tế gắn liền với sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình di chuyển vốn giữa các nước, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. FDI là một trong những hình thức đầu tư chủ yếu của hoạt động đầu tư quốc tế.
Ngày nay, hoạt động FDI đã trở nên rất phổ biến, bản chất của hoạt động này là một nhưng có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng khía cạnh xem xét. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO,1996) cho rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) với quyền quản lý tài sản đó”. Khái niệm này nhấn mạnh rằng FDI là một tài sản. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 1993, trang 27) thì: “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2015) đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một 9 doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và (iv) Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)”. Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) thì: “FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác”.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy. Định nghĩa này không cho chúng ta biết chính xác một việc đầu tư là gì. Theo Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư”. Luật đầu tư năm 2020 của Việt Nam chỉ rõ: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”.
Theo đó, có thể hiểu FDI là hình thức nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Từ những khái niệm trên, luận văn đi đến thống nhất với khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ nước chủ đầu tư sang nước tiếp nhận vốn đầu tư để thành lập, quản lý hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất. FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận.
Trong khi các hình thức đầu tư gián tiếp thu được lợi tức tài chính ổn định, nguồn thu của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn ra để đầu tư, vì vậy mà thu nhập của chủ đầu tư nhận được là thu nhập từ kinh doanh, sản xuất và kém ổn định hơn so với thu nhập từ 10 đầu tư gián tiếp. Tuy nhiên, xét về mặt tích cực, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài được tự chủ hoàn toàn và có quyền quyết định đối với hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời toàn quyền quyết định về tài chính và chịu trách nhiệm về vấn đề lãi, lỗ với khoản đầu tư. Đây chính là động lực thúc đẩy, giúp các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đưa ra được những quyết định đúng đắn, hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và đó cũng chính là lý do các dự án FDI thường đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn so với các hình thức đầu tư khác.